NHIỆM VỤ TRUYỀN GIÁO

NHIỆM VỤ TRUYỀN GIÁO

LỄ THĂNG THIÊNG

Bài đọc 1 : ( Cv 1:1-11). Bài đọc 2 : ( Ep 1:17-23). Tin Mừng : (Mt 28:16-20)

40 ngày sau khi sống lại, Đức Giêsu hẹn gặp mười một môn đệ lần cuối tại một ngọn núi ở miền Galilê. Khi thấy Ngài, các ông bái lạy , nhưng cũng có mấy ông còn hoài nghi. Đức Giêsu đến gần và nói với các ông: “ Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” ( Mt 28: 18-20). Nói xong, Đức Giêsu được cất lên trước mắt các ông và có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy gì nữa: Đức Giêsu thăng thiên. Ngài trở về nơi Ngài đã ra đi.  Sứ vụ Ngài giao phó lại cho các môn đệ là làm chứng nhân của Ngài, rao giảng Tin Mừng cứu độ, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ bằng cách làm phép rửa cho họ và dạy bảo họ mọi điều Ngài đã truyền dạy.

Với một sứ vụ nặng nề, khó khăn như thế, chương trình cứu độ của Thiên Chúa sẽ đi đâu với mười một môn đệ chất phát, ít học?

Có một câu chuyện kể rằng: Sau khi đã chết đi và sống lại, Đức Giêsu trở về thiên đàng. Tổng Lãnh  Thiên Thần Gáprien ngạc nhiên khi thấy Ngài trở về quá sớm. Tổng Lãnh Thiên Thần hỏi: “ Ngài trở lại sớm quá.” Đức Giêsu trả lời : “ Đáng lẽ ra Ta ở lại lâu hơn, nhưng người ta đã đóng đinh Ta.” Thiên Thần Gáprien nói: “ Ồ, người ta đóng đinh Ngài ư? Vậy thì điều ấy có nghĩa là Ngài đã thất bại.” Đức Giêsu nói: “ Không hẳn là như thế. Ngươi thấy đó. Ta đã kêu gọi một nhóm nhỏ các môn đệ. Họ sẽ thực hiện công trình của Ta.” Thiên Thần Gáprien hỏi: “ Vậy nếu họ thất bại thì sao? “ Đức Giêsu trả lời: “ Ta không có kế hoạch nào khác.”

Nhưng trải dài hơn hai mươi thế kỷ qua, Tin Mừng của Chúa không bị dập tắt nhưng đã phát triển khắp địa cầu.  Điều đó chứng minh: có Chúa cùng đồng với chúng ta như lời Ngài đã nói : “ Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” và có sức mạnh của Đấng Phù Trợ là Thần Kì sự thật như lời Đức Giêsu đã hứa :”Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đế ở với anh em luôn mãi.”( Ga 14:16)

Biến cố lên trời đánh dấu một trang sử mới, một trang sử hành động kết hợp giữa trời và đất. Đức Giêsu về trời, kết thúc thân phận con người, nhưng lại khai mở một giai đoạn mới, giai đoạn khởi đầu Giáo Hội ở trần gian. Về trời, Đức Giêsu không còn hiện diện một cách thể lý nữa. Ngài được giải thoát khỏi tất cả những giới hạn về không gian và thời gian.

Sứ vụ mà Đức Giêsu muốn ủy thác cho các môn đệ  và cho chúng ta hôm nay là tiếp tục cộng tác với Ngài trong chương trình cứu thế. Ngài tùy thuộc vào chúng ta. Chúng ta là những chứng nhân của Ngài trên thế giới: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” Đây là một nhiệm vụ dễ làm nản lòng, nhưng lại là một đặc ân vĩ đại. Chương trình của Thiên Chúa sẽ không thành công nếu không có sự góp tay của con người ở trần gian này. Ngày nay, Đức Giêsu thùy thuộc vào chúng ta.

Chúng ta được sai đi để làm chứng về Đức Kitô trong tinh thần hướng về một thế giới mới. Cuộc sống ở trần gian là một sự chuẩn bị cho sự sống vĩnh cửu trên trời. Đường lên trời bắt đầu từ cuộc sống hôm nay. Sứ mạng mà Chúa muốn giao phó cho chúng  là đi vào thế gian, trở về với thực tế của cuộc sống để hướng tất cả vào việc xây dựng Nước Trời. Sứ mạng mà Đức Giêsu giao phó cho các môn đệ xưa kia và cho chúng ta hôm nay là loan báo Tin Mừng cho hết mọi người. Cách thức có hiệu quả để làm chứng cho Đức Giêsu là sống cuộc sống của người Ki tô hữu.

“ Hỡi những người Galilê, sao còn đứng đó nhìn trời?”Hãy trở về với thực tại.  Hãy nhìn vào thực tế mà ra đi, lên đường hoàn tất sứ vụ Đức Giêsu đã giao phó.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần VII Mùa Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật Tuần VII Mùa Phục Sinh Năm A

CHÚA NHẬT 05-28-2017

LỄ THĂNG THIÊNG

Bài Ðọc I: Cv 1, 1-11

"Trước sự chứng kiến của các ông, Người lên trời".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Hỡi Thêôphilê, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những điều Ðức Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, cho đến ngày Người lên trời, sau khi căn dặn các Tông đồ, những kẻ Người đã tuyển chọn dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa. Và trong một bữa ăn, Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa. Người nói: "Như các con đã nghe chính miệng Thầy rằng: Gioan đã làm phép rửa bằng nước, phần các con, ít ngày nữa, các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần".

Vậy các kẻ có mặt hỏi Người rằng: "Lạy Thầy, có phải đã đến lúc Thầy khôi phục Nước Israel chăng?" Người bảo họ rằng: "Ðâu phải việc các con hiểu biết thời gian hay kỳ hạn mà Cha đã ấn định do quyền bính Ngài. Nhưng các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất". Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông.

Ðang khi các ông còn ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang xa đi, thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: "Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời". Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 46, 2-3. 6-7. 8-9

Ðáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang  (c. 6).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Hết thảy chư dân, hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa tiếng reo vui! Vì Chúa là Ðấng Tối cao, khả uý, Người là Ðại Ðế trên khắp trần gian.              

2) Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng,
Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang. Hãy ca mừng, ca mừng Thiên Chúa' hãy ca mừng, ca mừng Vua ta!

3) Vì Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian, hãy xướng ca vịnh mừng Người. Thiên Chúa thống trị trên các nước, Thiên Chúa ngự trên ngai thánh của Người.              

Bài Ðọc II:  Ep 1, 17-23

"Người đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời".

Trích thư của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, xin Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc kh8 dKải, để nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Ðức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài, và là sự sung mãn của Ðấng chu toàn mọi sự trong mọi người. Ðó là lời Chúa.

Alleluia:  Mt 28, 19 và 20

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 28, 16-20

"Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy".

Bài kết Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế". Đó là lời Chúa.

———————————————————————————————————————————————-

Hay đọc bài này

 

BÀI ĐỌC I: Cv 1, 12-14

"Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

(Sau khi Chúa Giêsu lên trời), Các Tông đồ xuống khỏi núi gọi là Núi Ôliu mà trở về Giêrusalem, núi này ở gần Giêrusalem, bằng quãng đường (được đi trong) ngày Sabbat. Và khi đã trở vào thành, các ông lên lầu gác, nơi Phêrô và Gioan, Giacôbê và Anrê, Philipphê và Tôma, Barthôlômêô và Matthêu, Giacôbê con ông Alphê và Simon Nhiệt thành, và Giuđa con ông Giacôbê, trú ngụ. Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, và Bà Maria mẹ Chúa Giêsu, với các anh em Người. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 26, 1. 4. 7-8a

Đáp:  Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh (c. 13).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Chúa là sự sáng, là Đấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Đấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.

3) Lạy Chúa, xin nghe tiếng con kêu cầu; xin thương xót và nhậm lời con. Về Chúa, lòng con tự nhắc lời: "Hãy tìm ra mắt Ta".

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 4, 13-16

"Nếu anh em bị xỉ nhục vì danh Chúa Kitô, thì phúc cho anh em".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, được thông phần vào các sự thống khổ của Chúa Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ. Nếu anh em bị xỉ nhục vì Danh Chúa Kitô, thì phúc cho anh em, bởi vì Thần Khí vinh quang, Thần Khí của Thiên Chúa, sẽ ngự trên anh em. Ước rằng không ai trong anh em phải khổ vì sát nhân, trộm cướp, gian phi hay là tham lam của kẻ khác. Nếu chỉ vì là Kitô hữu thì đừng hổ thẹn, hãy ca ngợi Thiên Chúa vì danh hiệu đó. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 18; 16, 22

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 17, 1-11a

"Lạy Cha, xin hãy làm vinh hiển Con Cha".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: "Lạy Cha, giờ đã đến, xin hãy làm vinh hiển Con Cha, để Con Cha làm vinh hiển Cha. Vì Cha đã ban cho Con quyền trên mọi huyết nhục, để con cũng ban sự sống đời đời cho mọi kẻ Cha đã giao phó cho Con. Sự sống đời đời chính là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất chân thật, và Đấng Cha đã sai, là Giêsu Kitô.

Con đã làm vinh hiển Cha dưới đất. Con đã chu toàn công việc mà Cha đã giao phó cho Con. Giờ đây, lạy Cha, xin hãy làm cho Con được vinh hiển nơi Cha, với sự vinh hiển mà Con đã có nơi Cha trước khi có thế gian. Con đã tỏ danh Cha cho mọi kẻ Cha đã đưa khỏi thế gian mà ban cho Con. Chúng thuộc về Cha, và Cha đã ban chúng cho Con, và chúng đã tuân giữ lời Cha. Bây giờ chúng biết rằng những gì Cha ban cho Con, đều bởi Cha mà ra. Vì những lời Cha ban cho Con thì Con đã ban cho chúng và chúng đã lãnh nhận, và biết đích thực rằng Con bởi Cha mà ra, và chúng tin rằng Cha đã sai Con.

Con cầu xin cho chúng; Con không cầu xin cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho Con, bởi vì chúng là của Cha. Và mọi sự của Con là của Cha, và mọi sự của Cha cũng là của Con, và Con đã được vinh hiển nơi chúng. Con không còn ở thế gian nữa, nhưng chúng vẫn còn ở thế gian, phần Con, Con về cùng Cha". Đó là lời Chúa.

 

Seventh Sunday of Easter

The Ascension of the Lord

SUNDAY 05-28-2017

Reading 1 Acts 1:1-11

In the first book, Theophilus,
I dealt with all that Jesus did and taught
until the day he was taken up,
after giving instructions through the Holy Spirit
to the apostles whom he had chosen.
He presented himself alive to them
by many proofs after he had suffered,
appearing to them during forty days
and speaking about the kingdom of God.
While meeting with them,
he enjoined them not to depart from Jerusalem,
but to wait for "the promise of the Father
about which you have heard me speak;
for John baptized with water,
but in a few days you will be baptized with the Holy Spirit."

When they had gathered together they asked him,
"Lord, are you at this time going to restore the kingdom to Israel?"
He answered them, "It is not for you to know the times or seasons
that the Father has established by his own authority.
But you will receive power when the Holy Spirit comes upon you,
and you will be my witnesses in Jerusalem,
throughout Judea and Samaria,
and to the ends of the earth."
When he had said this, as they were looking on,
he was lifted up, and a cloud took him from their sight.
While they were looking intently at the sky as he was going,
suddenly two men dressed in white garments stood beside them.
They said, "Men of Galilee,
why are you standing there looking at the sky?
This Jesus who has been taken up from you into heaven
will return in the same way as you have seen him going into heaven."

Responsorial Psalm Ps 47:2-3, 6-7, 8-9

R. (6) God mounts his throne to shouts of joy: a blare of trumpets for the Lord.
or:
R. Alleluia.
All you peoples, clap your hands,
shout to God with cries of gladness,
for the LORD, the Most High, the awesome,
is the great king over all the earth.
R. God mounts his throne to shouts of joy: a blare of trumpets for the Lord.
or:
R. Alleluia.
God mounts his throne amid shouts of joy;
the LORD, amid trumpet blasts.
Sing praise to God, sing praise;
sing praise to our king, sing praise.
R. God mounts his throne to shouts of joy: a blare of trumpets for the Lord.
or:
R. Alleluia.
For king of all the earth is God;
sing hymns of praise.
God reigns over the nations,
God sits upon his holy throne.
R. God mounts his throne to shouts of joy: a blare of trumpets for the Lord.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 Eph 1:17-23

Brothers and sisters:
May the God of our Lord Jesus Christ, the Father of glory,
give you a Spirit of wisdom and revelation
resulting in knowledge of him.
May the eyes of your hearts be enlightened,
that you may know what is the hope that belongs to his call,
what are the riches of glory
in his inheritance among the holy ones,
and what is the surpassing greatness of his power
for us who believe,
in accord with the exercise of his great might,
which he worked in Christ,
raising him from the dead
and seating him at his right hand in the heavens,
far above every principality, authority, power, and dominion,
and every name that is named
not only in this age but also in the one to come.
And he put all things beneath his feet
and gave him as head over all things to the church,
which is his body,
the fullness of the one who fills all things in every way.

Alleluia Mt 28:29a, 20b

R. Alleluia, alleluia.
Go and teach all nations, says the Lord;
I am with you always, until the end of the world.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Mt 28:16-20

The eleven disciples went to Galilee,
to the mountain to which Jesus had ordered them.
When they saw him, they worshiped, but they doubted.
Then Jesus approached and said to them,
"All power in heaven and on earth has been given to me.
Go, therefore, and make disciples of all nations,
baptizing them in the name of the Father,
and of the Son, and of the Holy Spirit,
teaching them to observe all that I have commanded you.
And behold, I am with you always, until the end of the age."

 

Or

Reading 1 Acts 1:12-14

After Jesus had been taken up to heaven the apostles
returned to Jerusalem
from the mount called Olivet, which is near Jerusalem,
a sabbath day's journey away.

When they entered the city
they went to the upper room where they were staying,
Peter and John and James and Andrew,
Philip and Thomas, Bartholomew and Matthew,
James son of Alphaeus, Simon the Zealot,
and Judas son of James.
All these devoted themselves with one accord to prayer,
together with some women,
and Mary the mother of Jesus, and his brothers.

Responsorial Psalm Ps 27:1, 4, 7-8

R. (13) I believe that I shall see the good things of the Lord in the land of the living.
or:
R. Alleluia.
The LORD is my light and my salvation;
whom should I fear?
The LORD is my life's refuge;
of whom should I be afraid?
R. I believe that I shall see the good things of the Lord in the land of the living.
or:
R. Alleluia.
One thing I ask of the LORD; this I seek:
to dwell in the house of the LORD
all the days of my life,
That I may gaze on the loveliness of the LORD
and contemplate his temple.
R. I believe that I shall see the good things of the Lord in the land of the living.
or:
R. Alleluia.
Hear, O Lord, the sound of my call;
have pity on me, and answer me.
Of you my heart speaks; you my glance seeks.
R. I believe that I shall see the good things of the Lord in the land of the living.
or:
R. Alleluia.

Reading 2

Beloved:
Rejoice to the extent that you share in the sufferings of Christ,
so that when his glory is revealed
you may also rejoice exultantly.
If you are insulted for the name of Christ, blessed are you,
for the Spirit of glory and of God rests upon you.
But let no one among you be made to suffer
as a murderer, a thief, an evildoer, or as an intriguer.
But whoever is made to suffer as a Christian should not be ashamed
but glorify God because of the name.

Alleluia Cf. Jn 14:18

R. Alleluia, alleluia.
I will not leave you orphans, says the Lord.
I will come back to you, and your hearts will rejoice.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 17:1-11a

Jesus raised his eyes to heaven and said,
"Father, the hour has come.
Give glory to your son, so that your son may glorify you,
just as you gave him authority over all people,
so that your son may give eternal life to all you gave him.
Now this is eternal life,
that they should know you, the only true God,
and the one whom you sent, Jesus Christ.
I glorified you on earth
by accomplishing the work that you gave me to do.
Now glorify me, Father, with you,
with the glory that I had with you before the world began.

"I revealed your name to those whom you gave me out of the world.
They belonged to you, and you gave them to me,
and they have kept your word.
Now they know that everything you gave me is from you,
because the words you gave to me I have given to them,
and they accepted them and truly understood that I came from you,
and they have believed that you sent me.
I pray for them.
I do not pray for the world but for the ones you have given me,
because they are yours, and everything of mine is yours
and everything of yours is mine,
and I have been glorified in them.
And now I will no longer be in the world,
but they are in the world, while I am coming to you."

ĐỨC TIN VÀ ĐỨC MẾN

ĐỨC TIN VÀ ĐỨC MẾN

CHÚA NHẬT TUẦN VI MÙA PHỤC SINH NĂM A

Bài đọc 1 : (Cv  8:5-8,14-17). Bài đọc 2 : ( 1 Pr 3:15-18). Tin Mừng : ( Ga 14:15-21)

Một đêm nọ, một người kia mơ thấy mình đang cùng với Chúa Giêsu đi lang thang trên bãi biển. Trên nền trời, bổng lóe lên những cảnh huống đời sống của anh ta. Trong mỗi cảnh huống, anh đều thấy có hai vết dấu chân: một của anh, một của Chúa Giêsu.

Khi cảnh huống cuối cùng lóe sáng, quay nhìn lại những dấu chân trên cát, anh ngạc nhiên trong suốt những cảnh huống trong cuộc đời anh, có những lúc chỉ có một vết chân. Anh hồi tưởng lại và nhớ ra đó là những thời gian tăm tối và ảm đạm nhất trong cuộc đời anh. Điều đó làm anh thắc mắc và quay sang hỏi Chúa: “ Lạy Chúa, Chúa đã phán rằng một khi con đã quyết định theo chân Chúa, Chúa sẽ đồng hành với con trên mọi nẻo đường. Nhưng con thấy trong những lúc  con gặp nhiều gian nan thử thách nhất thì chỉ có một dấu chân của con. Những khi con cần đến Chúa thì Chúa lại bỏ con bơ vơ một mình.

Chúa từ tốn trả lời: “ Hỡi con dấu ái của Cha, Cha yêu thương con và Cha đâu nỡ để con mồ côi trong những lúc thử thách và đau khổ. Những  lúc con chỉ thấy một dấu chân trên cát chính là những lúc Cha đang bồng ẵm con và che chở con trên cánh tay của Cha.”

Đức Giêsu đã có lần nói với các môn đệ: Thầy sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế và trước khi giã biệt các môn đệ để chịu cuộc khổ nạn và phục sinh trở về với Chúa Cha, Ngài còn hứa: Thầy sẽ không để anh em mồ côi, đồng thời Ngài còn có những lời nhắn gửi đến các môn đệ ngày xưa và cho cả chúng ta hôm nay: đó là tin và yêu.

Trước tiên Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải tin vào Ngài: “ Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.”Chúa Cha và Chúa Con là một trong hành động và lời nói: “ Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.”  Ai có lòng tin vững mạnh thì “ sẽ làm được những việc Thầy làm, và còn làm được những việc lớn hơn nữa bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” Và một khi chúng ta nhân danh Đức Kitô và hoàn toàn tin tường và phó thác vào quyền năng của Thiên Chúa, thì : “ Bất cứ điều gi anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con.” Niềm tin ấy phải được thể hiện qua tình yêu : “ Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.”

Dấu chứng cho sự yêu mến Thiên Chúa là giữ các điều răn của Chúa. Điều răn mới mà Đức Giêsu truyền là: “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” ( Ga 13: 34) Nếu chúng ta chỉ yêu mến Thiên Chúa bằng những việc đạo đức để được Chúa cho lên thiên đàng thôi thì lòng yêu mến ấy chưa thỏa lòng ước mong của Chúa. Lòng yêu mến ấy phải được thể hiện bằng hành động, đó là yêu tương anh em mình như Chúa đã yêu thương chúng ta. Yêu thương anh em là dấu chi của sự hiệp nhất trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Chính từ sự yêu anh em như Chúa yêu chúng ta mà người ta nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa. Yêu mến Thầy qua sự yêu mến anh em là điều răn căn bản : yêu mến anh em như thầy đã yêu mến anh em.

Trong cuộc sống của mỗi người, có những lúc chúng ta gặp khốn khó, chúng ta kêu cầu Chúa nhưng không thấy kết quả gì; nhiều lần như thế, chúng ta hồ nghi không biết Chúa ở đâu, Ngài có thấu tình cảnh khốn khó của mình không, hoặc quá chú trọng đến bản thân, đến khả năng của mình mà quên cậy nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa.

Chúa vẫn ở bên, vẫn đồng hành với chúng ta, nhưng để có Chúa đồng hành và yêu thương chúng ta, thì điều kiện phải có: Tin yêu và phó thác. Hành động biểu hiện tình yêu đối với Thiên Chúa là chúng ta hãy yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Với đức tin vào Thiên Chúa và với tình yêu Ngài qua việc yêu thương anh em, chúng ta sẽ sống trong sự hiệp nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa.

LM Giuse Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần VI Mùa Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật Tuần VI Mùa Phục Sinh Năm A

CHÚA NHẬT 05-21-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 8, 5-8. 14-17

"Các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm. Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng khôn tả.

Khi các tông đồ ở Giêrusalem nghe tin Samaria đón nhận lời Thiên Chúa, liền gởi Phêrô và Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ngài cầu nguyện cho họ được nhận lãnh Thánh Thần: vì chưa có ai trong họ được nhận lãnh Thánh Thần, họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 65, 1-3a. 4-5. 6-7a. 16 và 20

Đáp:  Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa! (c. 1)

Hoặc đọc:   Alleluia.

1) Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa! Hãy ca ngợi vinh quang danh Người; hãy kính dâng Người lời khen ngợi hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa! .    

2)   Toàn thể đất nước thờ lạy và ca khen Ngài, ca khen danh thánh của Ngài. Hãy tới và nhìn coi sự nghiệp của Thiên Chúa, Người thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta!.   

3)   Người biến bể khơi thành nơi khô cạn, người ta đã đi bộ tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa! Với quyền năng, Người thống trị tới muôn đời.  .   

4)   Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến, hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao. Chúc tụng Chúa là Đấng không hất hủi lời tôi nguyện, và không rút lại lòng nhân hậu đối với tôi.  .  

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 3, 15-18

"Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, anh em hãy tôn thờ Chúa Kitô trong lòng anh em, hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em, nhưng phải làm cách hiền từ, kính cẩn, hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo đức của anh em trong Đức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em. Vì nếu Thiên Chúa muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác. Vì Đức Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Người là Đấng công chính thay cho kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa; thật ra Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 14, 15-21

"Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con. Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống. Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con. Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó". Đó là lời Chúa.

Sixth Sunday of Easter

SUNDAY 05-21-2017

Reading 1 Acts 8:5-8, 14-17

Philip went down to the city of Samaria
and proclaimed the Christ to them.
With one accord, the crowds paid attention to what was said by Philip
when they heard it and saw the signs he was doing.
For unclean spirits, crying out in a loud voice,
came out of many possessed people,
and many paralyzed or crippled people were cured.
There was great joy in that city.

Now when the apostles in Jerusalem
heard that Samaria had accepted the word of God,
they sent them Peter and John,
who went down and prayed for them,
that they might receive the Holy Spirit,
for it had not yet fallen upon any of them;
they had only been baptized in the name of the Lord Jesus.
Then they laid hands on them
and they received the Holy Spirit.

Responsorial Psalm Ps 66:1-3, 4-5, 6-7, 16, 20

R. (1) Let all the earth cry out to God with joy.
or:
R. Alleluia.
Shout joyfully to God, all the earth,
sing praise to the glory of his name;
proclaim his glorious praise.
Say to God, "How tremendous are your deeds!"
R. Let all the earth cry out to God with joy.
or:
R. Alleluia.
"Let all on earth worship and sing praise to you,
sing praise to your name!"
Come and see the works of God,
his tremendous deeds among the children of Adam.
R. Let all the earth cry out to God with joy.
or:
R. Alleluia.
He has changed the sea into dry land;
through the river they passed on foot;
therefore let us rejoice in him.
He rules by his might forever.
R. Let all the earth cry out to God with joy.
or:
R. Alleluia.
Hear now, all you who fear God, while I declare
what he has done for me.
Blessed be God who refused me not
my prayer or his kindness!
R. Let all the earth cry out to God with joy.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 1 Pt 3:15-18

Beloved:
Sanctify Christ as Lord in your hearts.
Always be ready to give an explanation
to anyone who asks you for a reason for your hope,
but do it with gentleness and reverence,
keeping your conscience clear,
so that, when you are maligned,
those who defame your good conduct in Christ
may themselves be put to shame.
For it is better to suffer for doing good,
if that be the will of God, than for doing evil.

For Christ also suffered for sins once,
the righteous for the sake of the unrighteous,
that he might lead you to God.
Put to death in the flesh,
he was brought to life in the Spirit.

Alleluia Jn 14:23

R. Alleluia, alleluia.
Whoever loves me will keep my word, says the Lord,
and my Father will love him and we will come to him.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 14:15-21

Jesus said to his disciples:
"If you love me, you will keep my commandments.
And I will ask the Father,
and he will give you another Advocate to be with you always,
the Spirit of truth, whom the world cannot accept,
because it neither sees nor knows him.
But you know him, because he remains with you,
and will be in you.
I will not leave you orphans; I will come to you.
In a little while the world will no longer see me,
but you will see me, because I live and you will live.
On that day you will realize that I am in my Father
and you are in me and I in you.
Whoever has my commandments and observes them
is the one who loves me.
And whoever loves me will be loved by my Father,
and I will love him and reveal myself to him."

 

ĐI ĐÂU, VỀ ĐÂU?

ĐI ĐÂU, VỀ ĐÂU?

CHÚA NHẬT TUẦN V PHỤC SINH NĂM A

Bài đọc 1: (Cv 6:1-7). Bài đọc 2 : (1Pr 2:4-9). Tin Mừng : ( Ga 14:1-12)

Thầy đi đâu, về đâu? Đó là nỗi băn khoăn của các môn đệ khi nghe Thầy bảo: “ Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy, nhưng như Thầy đã nói với người Do thái: ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được’. Bây giờ Thầy cũng nói với anh em như vậy.” Trong bữa Tiệc Ly Đức Giêsu đã nói với các môn đệ như thế. Ông Simon Phêrô đã hỏi lại Thầy: “ Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?” Đức Giêsu trả lời: “ Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được.”  Và ông Tôma cũng băn khoăn: “ Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”  Đức Giêsu không chỉ cho các môn đệ con đường nào, nhưng Ngài lại nói: “ Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Như thế, Đức Giêsu là người mở đường và là con  đường đưa chúng ta đến với Chúa Cha: Con đường Giêsu.

Đức Giêsu là con đường từ trời xuống thế gian để rồi lại từ thế gian trở về trời, về Chúa Cha. Cuộc trở về này không phải là một cuộc ra đi mãi mãi, nhưng là một cuộc ra đi có lợi cho chúng ta. Ngài ra đi là “ để dọn chỗ cho chúng ta”, rồi sẽ trở lại đem chúng ta về với Ngài để Ngài ở đâu chúng ta cũng ở đó.

Con đường Giêsu là con đường vâng theo thánh ý Chúa Cha, đã xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại khỏi sự diệt vong do tội lỗi, đã hy sinh mạnh sống mình vì yêu thương con người. Con đường Giêsu là con đường loan báo Tin Mừng cứu độ. Con đường Giêsu là con đường đưa nhân loại đến với Chúa Cha và trở về nhà Cha để sống trong hạnh phúc muôn đời. Con đường Giêsu là con đường hy vọng cho cuộc sống hôm nay. Con đường Giêsu là con đường sư thật, con đường đem lại sự sống vĩnh cửu.

Con đường Giêsu không phải là con đường ảo tưởng mơ hồ, nhưng là con đường thật, vì Đức Giêsu là sự thật, nên Ngài không lừa dối ai.  Chỉ khi chúng ta đi theo con đường Giêsu, chúng ta mới tìm được sự sống vĩnh cửu trong nhà Cha trên trời. Đức Giêsu đã đi để dọn chỗ cho những ai tin yêu, tín thác vào Ngài để bước đi theo con đường của Ngài vạch ra.

Đức Giêsu là con đường dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Cha; nhưng Chúa Cha là Đấng nào? đang ở đâu? Ông Philíphê đã hỏi Thầy Giêsu: “ Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giêsu đã trả lời cho các môn đệ: “ Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy.” “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.” Như thế Chúa Cha và Chúa Con là một trong hành động và lời nói. Chúng ta thấy gì và nghe gì nơi Đức Giêsu? Thấy kẻ què được đi, thấy kẻ mù được thấy, thấy kẻ chết được sống lại, thấy người bệnh hoạn tật nguyền được chữa lành, nghe Tin Mừng cứu độ… Ai muốn đến với Chúa Cha thì phải qua con đường Giêsu : “ Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Đó là con đường duy nhất, không có con đường nào khác. Đức Giêsu là con đường cứu độ. Ai không đi qua con đường ấy, sẽ không được cứu thoát.

Đi theo con đường Giêsu, chúng ta cũng phải trở nên giống hình ảnh của Thiên Chúa để cho người ta thấy chúng ta, và từ đó thấy Thiên Chúa. Đi theo con đường Giêsu, chúng ta sẽ được giải thoát, được an tâm vì Đức Giêsu là sự thật, là con đường dẫn chúng ta đến sự sống muôn đời, vì Đức Giêsu là sự sống. Đi theo con đường Giêsu là đi tìm thánh ý Thiên Chúa, là từ bỏ ý riêng, là vác thập giá mình mà theo Chúa, là yêu thường phục vụ Thiên Chúa và phục vụ anh em. Đó là con đường duy nhất trở về gặp Chúa Cha trong nhà Ngài mà Đức Giêsu đã đi trước để dọn sẵn cho chúng ta.

Một khi chúng ta có Chúa là đường, là chân lý, là sự sống thì không có lý do gì chúng  ta phải xao xuyến, nhưng hãy tin yêu  và tín thác vào Thiên Chúa trong tinh thần lạc quan, vui sống như lời Đức Giêsu đã nói: “ Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.”

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anheim

Chúa Nhật Tuần V Mùa Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật Tuần V Mùa Phục Sinh Năm A

CHÚA NHẬT 05-14-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 6, 1-7

"Họ chọn bảy người đầy Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, số môn đồ gia tăng, nên xảy ra việc các người Hy-lạp kêu trách các người Do-thái, vì trong việc phục vụ hằng ngày, người ta khinh miệt các bà goá trong nhóm họ. Nên Mười hai Vị triệu tập toàn thể môn đồ đến và bảo: "Chúng tôi bỏ việc rao giảng lời Chúa mà lo đi giúp bàn, thì không phải lẽ. Vậy thưa anh em, anh em hãy chọn lấy bảy người trong anh em có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan, để chúng tôi đặt họ làm việc đó. Còn chúng tôi, thì sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ lời Chúa".

Cả đoàn thể đều tán thành lời các ngài, và chọn Têphanô, một người đầy đức tin và Thánh Thần, và chọn Philipphê, Prôcô, Nicanô, Timon, Parmêna, và Nicôla quê ở Antiôkia. Họ đưa mấy vị đó đến trước mặt các Tông đồ. Các ngài cầu nguyện và đặt tay trên các vị đó.

Lời Chúa lan tràn, và số môn đồ ở Giêrusalem gia tăng rất nhiều. Cũng có đám đông tư tế vâng phục đức tin. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 1-2. 4-5. 18-19

Đáp: Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, như chúng con đã trông cậy Chúa (c. 22).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa! Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. – Đáp.

2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.

3) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 2, 4-9

"Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, khi đến cùng Chúa là tảng đá sống động, bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa tuyển chọn và tôn vinh, chính anh em như những tảng đá sống động, xây dựng toà nhà thiêng liêng, chức vụ tư tế thánh thiện, để hiến dâng của lễ thiêng liêng đáng Thiên Chúa chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Vì thế, có lời Thánh Kinh rằng: "Đây Ta đặt tại Sion tảng đá góc tường, được tuyển chọn và quý giá, ai tin Người, sẽ không phải hổ thẹn". Vậy, vinh dự cho anh em là những kẻ tin; nhưng đối với những kẻ không tin, thì tảng đá mà thợ xây loại bỏ, đã trở thành đá góc tường, đá vấp ngã và đá chướng ngại cho những kẻ chống lại và không tin lời Chúa, và số phận của họ là thế. Còn anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 6

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 14, 1-12

"Thầy là đường, là sự thật và là sự sống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi". Ông Tôma thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?" Chúa Giêsu đáp: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ các con biết và đã xem thấy Người". Philipphê thưa: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha, và như thế là đủ cho chúng con". Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: "†Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư, Philipphê?‡ Ai thấy Thầy là xem thấy Cha, sao con lại nói 'Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha'? Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha". Đó là lời Chúa.

 

Fifth Sunday of Easter

SUNDAY 05-14-2017

Reading 1 Acts 6:1-7

As the number of disciples continued to grow,
the Hellenists complained against the Hebrews
because their widows
were being neglected in the daily distribution.
So the Twelve called together the community of the disciples and said,
"It is not right for us to neglect the word of God to serve at table.
Brothers, select from among you seven reputable men,
filled with the Spirit and wisdom,
whom we shall appoint to this task,
whereas we shall devote ourselves to prayer
and to the ministry of the word."
The proposal was acceptable to the whole community,
so they chose Stephen, a man filled with faith and the Holy Spirit,
also Philip, Prochorus, Nicanor, Timon, Parmenas,
and Nicholas of Antioch, a convert to Judaism.
They presented these men to the apostles
who prayed and laid hands on them.
The word of God continued to spread,
and the number of the disciples in Jerusalem increased greatly;
even a large group of priests were becoming obedient to the faith.

Responsorial Psalm Ps 33:1-2, 4-5, 18-19

R. (22) Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
or:
R. Alleluia.
Exult, you just, in the LORD;
praise from the upright is fitting.
Give thanks to the LORD on the harp;
with the ten-stringed lyre chant his praises.
R. Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
or:
R. Alleluia.
Upright is the word of the LORD,
and all his works are trustworthy.
He loves justice and right;
of the kindness of the LORD the earth is full.
R. Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
or:
R. Alleluia.
See, the eyes of the LORD are upon those who fear him,
upon those who hope for his kindness,
To deliver them from death
and preserve them in spite of famine.
R. Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 1 Pt 2:4-9

Beloved:
Come to him, a living stone, rejected by human beings
but chosen and precious in the sight of God,
and, like living stones,
let yourselves be built into a spiritual house
to be a holy priesthood to offer spiritual sacrifices
acceptable to God through Jesus Christ.
For it says in Scripture:
Behold, I am laying a stone in Zion,
a cornerstone, chosen and precious,
and whoever believes in it shall not be put to shame.

Therefore, its value is for you who have faith, but for those without faith:
The stone that the builders rejected
has become the cornerstone,
and
A stone that will make people stumble,
and a rock that will make them fall.

They stumble by disobeying the word, as is their destiny.

You are "a chosen race, a royal priesthood,
a holy nation, a people of his own,
so that you may announce the praises" of him
who called you out of darkness into his wonderful light.

Alleluia Jn 14:6

R. Alleluia, alleluia.
I am the way, the truth and the life, says the Lord;
no one comes to the Father, except through me.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 14:1-12

Jesus said to his disciples:
"Do not let your hearts be troubled.
You have faith in God; have faith also in me.
In my Father's house there are many dwelling places.
If there were not,
would I have told you that I am going to prepare a place for you?
And if I go and prepare a place for you,
I will come back again and take you to myself,
so that where I am you also may be.
Where I am going you know the way."
Thomas said to him,
"Master, we do not know where you are going;
how can we know the way?"
Jesus said to him, I am the way and the truth and the life.
No one comes to the Father except through me.
If you know me, then you will also know my Father.
From now on you do know him and have seen him."
Philip said to him,
"Master, show us the Father, and that will be enough for us."
Jesus said to him, "Have I been with you for so long a time
and you still do not know me, Philip?
Whoever has seen me has seen the Father.
How can you say, 'Show us the Father'?
Do you not believe that I am in the Father and the Father is in me?
The words that I speak to you I do not speak on my own.
The Father who dwells in me is doing his works.
Believe me that I am in the Father and the Father is in me,
or else, believe because of the works themselves.
Amen, amen, I say to you,
whoever believes in me will do the works that I do,
and will do greater ones than these,
because I am going to the Father."

ĐỨC GIÊSU : MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN

ĐỨC GIÊSU : MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN

CHÚA NHẬT TUẦN IV MÙA PHỤC SINH NĂM A

Bài đọc 1 : ( Cv 2 : 14a, 36-41). Bài đọc 2 : ( 1 Pr 2: 20b-25). Tin Mừng: ( Ga 10: 1-10)

Đức Giêsu đã ví mình là cửa chuồng chiên: “ Tôi là cửa cho chiên ra vào.” và  “ Ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử, còn “ Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên , nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy kẻ trộm, kẻ cướp.” Như thế Đức Giêsu là mục tử chân chính và là cửa chuồng chiên.

Cửa là lối đi ra vào. Người mục tử chân chính hiên ngang đi qua cửa mà vào, còn kẻ trộm thì lén lút trèo tường. Cửa chuồng chiên là lối ra vào duy nhất để đến với đàn chiên. Để đến với đàn chiên, hình ảnh của dân Thiên Chúa, phải đi qua Đức Giêsu, cửa chuồng chiên. Không còn cách nào khác để đến với dân Chúa, đến với Nước Thiên Chúa, đến với Giáo Hội và đến với sự sống khi không đi qua cửa chuồng chiên Giêsu. Ai không đi qua môi trường sống tuyệt đối duy nhất là cửa chuồng chiên Giêsu, sẽ bị hư mất và lạc hướng. Chỉ có môi trường ấy, con người mới thực sự có tự do, sự sống và phát triển hoàn hảo: “ Phần tôi, tôi đến cho chiên được sống và sống dồi dào.” Như thế, cửa Giêsu là cửa cứu chuộc, cửa đem lại sự sống cho con chiên. Nhưng ai là mục tử chính hiệu để được người giữ cửa là Chúa Cha mở cho vào?

Đức Giêsu đã phân biệt hai  loại mục tử: mục tử chính hiệu và mục tử giả hiệu. Những mục tử giả hiệu không phải là chủ chiên, nên không thể đi qua cửa chuồng chiên mà vào, nên phải trèo qua lối khác. Họ là kẻ trộm, kẻ cướp. Họ là người làm thuê, vì không phải là mục tử và vì chiên không thuộc về họ, nên khi thấy sói đến họ bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn. Họ là những người đến trước Đức Giêsu: “ Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp.” Ở đây,Đức Giêsu không ám chỉ những kẻ đến trước Ngài là các ngôn sứ vào thời Cựu Ước, nhưng là các đầu mục Do Thái gồm các kinh sư, người Pharisiêu, các tư tế phục vụ  Đền thờ. Họ vô trách nhiệm trước hiểm nguy của đàn chiên. Họ bị Đức Giêsu quở trách là bọn đạo đức giả, cản trở người khác tìm đến Nước Thiên Chúa. Họ tham lam, ăn ở bất công, phục vụ ý riêng của mình và đã từng giết hại nhiều vị ngôn sứ chân chính. Họ thường tự hào là những mang lại cho con người sự hiểu biết về thần linh.

Ngược lại, người mục tử duy nhất, nhân lành đó là Đức Giêsu, như lời Ngài khẳng định: “ Tôi chính là Mục Tử nhân lành.” Vị Mục Tử ấy “ hy sinh mạng sống  mình cho đàn chiên.” Đức Giêsu đã thể hiện sứ vụ mục tử của mình qua việc hy sinh quên mình để chỉ nghĩ đến đàn chiên, sẵn sàng chịu chết trên Thập giá để đền tội thay cho đàn chiên, đi khắp nơi để rao giảng Tin Mừng cứu độ. Tất cả vì đàn chiên để “ chiên được sống và sống dồi dào.” Cuộc sống dồi dào ấy không phải chỉ là cuộc sống đời đời mai sau mà còn là cuộc sống ở thế gian này nữa.

Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, người mục tử lý tưởng là người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót; là người yêu sự khó nghèo nội tâm trước mặt Thiên Chúa cũng như sự khó nghèo bên ngoài như đơn sơ, khắc khổ trong cuộc sống; là những người không có tâm lý ông hoàng; là những người không tham vọng và là các phu quân của Giáo Hội; là những người có khả năng thức tỉnh đàn chiên được giao phó, và quan tâm duy trì sự hiệp nhất, canh giữ đàn chiên, chú ý đến các hiểm nguy có thể đe dọa đàn  chiên, nhất là làm cho niềm hy vọng lớn lên. Người mục tử có ba vị trí trong đàn chiên: Ở đàng trước để dẫn đường, ở giữa để duy trì sự hiệp nhất và giữ vững tinh thần của đàn chiên, ở đàng sau để tránh cho chiên khỏi đi tụt hậu và tạo điều kiện cho đàn chiên đánh hơi hầu tìm ra một hướng đi mới.

Tấm gương Mục Tử nhân lành Giêsu là tấm gương cho các mục tử hôm nay noi theo để phục vụ đàn chiên của Hội Thánh qua việc hăng say rao giảng Tin Mừng Nước Trời  và phục vụ con người.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

 

Chúa Nhật Tuần IV Mùa Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật Tuần IV Mùa Phục Sinh Năm A

CHÚA NHẬT 05-07-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 2, 14a. 36-41

"Thiên Chúa đã tôn Người làm Chúa và làm Đấng Kitô".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết chắc rằng: Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Đấng Kitô".

Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: "Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?" Phêrô nói với họ: "Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần. Vì chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em, và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến". Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ mà rằng: "Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này". Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng, đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6

Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Đáp.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Đáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Đáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.- Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 2, 20b-25

"Anh em đã trở về cùng Đấng canh giữ linh hồn anh em".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, khi làm việc lành, nếu anh em phải nhẫn nhục chịu đau khổ, đó mới là ân phúc trước mặt Thiên Chúa. Anh em được gọi làm việc đó, vì Đức Kitô đã chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người. Người là Đấng không hề phạm tội, và nơi miệng Người không thấy điều gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe; Người phó mình cho Đấng xét xử công minh; chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành. Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 10, 14

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 10, 1-10

"Ta là cửa chuồng chiên".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ". Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào". Đó là lời Chúa.

 

Fourth Sunday of Easter

SUNDAY 05-07-2017
 

Reading 1 Acts 2:14a, 36-41

Then Peter stood up with the Eleven,
raised his voice, and proclaimed:
"Let the whole house of Israel know for certain
that God has made both Lord and Christ,
this Jesus whom you crucified."

Now when they heard this, they were cut to the heart,
and they asked Peter and the other apostles,
"What are we to do, my brothers?"
Peter said to them,
"Repent and be baptized, every one of you,
in the name of Jesus Christ for the forgiveness of your sins;
and you will receive the gift of the Holy Spirit.
For the promise is made to you and to your children
and to all those far off,
whomever the Lord our God will call."
He testified with many other arguments, and was exhorting them,
"Save yourselves from this corrupt generation."
Those who accepted his message were baptized,
and about three thousand persons were added that day.

Responsorial Psalm Ps 23: 1-3a, 3b4, 5, 6

R. (1) The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Alleluia.
The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Alleluia.
He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side.
With your rod and your staff
that give me courage.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Alleluia.
You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Alleluia.
Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 1 Pt 2:20b-25

Beloved:
If you are patient when you suffer for doing what is good,
this is a grace before God.
For to this you have been called,
because Christ also suffered for you,
leaving you an example that you should follow in his footsteps.
He committed no sin, and no deceit was found in his mouth.

When he was insulted, he returned no insult;
when he suffered, he did not threaten;
instead, he handed himself over to the one who judges justly.
He himself bore our sins in his body upon the cross,
so that, free from sin, we might live for righteousness.
By his wounds you have been healed.
For you had gone astray like sheep,
but you have now returned to the shepherd and guardian of your souls.

Alleluia Jn 10:14

R. Alleluia, alleluia.
I am the good shepherd, says the Lord;
I know my sheep, and mine know me.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 10:1-10

Jesus said:
"Amen, amen, I say to you,
whoever does not enter a sheepfold through the gate
but climbs over elsewhere is a thief and a robber.
But whoever enters through the gate is the shepherd of the sheep.
The gatekeeper opens it for him, and the sheep hear his voice,
as the shepherd calls his own sheep by name and leads them out.
When he has driven out all his own,
he walks ahead of them, and the sheep follow him,
because they recognize his voice.
But they will not follow a stranger;
they will run away from him,
because they do not recognize the voice of strangers."
Although Jesus used this figure of speech,
the Pharisees did not realize what he was trying to tell them.

So Jesus said again, "Amen, amen, I say to you,
I am the gate for the sheep.
All who came before me are thieves and robbers,
but the sheep did not listen to them.
I am the gate.
Whoever enters through me will be saved,
and will come in and go out and find pasture.
A thief comes only to steal and slaughter and destroy;
I came so that they might have life and have it more abundantly."

 

 

CÓ CHÚA ĐỒNG HÀNH

CÓ CHÚA ĐỒNG HÀNH

CHÚA NHẬT TUẦN III MÙA PHỤC SINH NĂM A

Bài đọc 1 : ( Cv 2 :14,22-33). Bài đọc 2 : ( 1 Pr 1:17-21). Tin Mừng : ( Lc 24:13-35)

Sau cái chết của Thầy Giêsu, các môn đệ sống trong tình trạng hoang mang , thất vọng. Giấc mơ của họ về một Đấng Mêsia sẽ cứu chuộc Ítraen, nay đã đổ vỡ tan tành. Trong số mười một môn đệ, có hai người đã rời bỏ anh em để về làng Emmau cách Giêrusalem chừng mười một cây số.

Họ vừa đi vừa nói về cái chết của Đức Giêsu, về tất cả những gì vừa xảy ra. Họ nhìn cái chết của Ngài dưới nhiều góc cạnh, nhưng vẫn không thể hiểu được. Một Đấng Mêsia  mà lại chịu xỉ nhục, chịu đóng đinh và đã chết trên thập giá như thế ư! Cuộc trở về Emmau của hai môn đệ tương tự người đã đánh mất niềm tin.

Trên đường đi, tình cờ họ gặp một người khách lạ mà thánh Luca cho biết: “ Chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người.”  Sự hiện diện của Đấng Phục sinh khác với sự hiện diện của Đức Giêsu  tại Nadarét. Đây là một sự hiện diện mới mẻ, chỉ có được tỏ hiện với con mắt đức tin. Thiên Chúa đang  cùng đồng hành với chúng ta để lắng nghe nỗi lòng của con người: “ Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy.” Sau khi thuật lại những biến cố đã xảy ra tại Giêrusalem  về cái chết và tin đồn về sự sống lại của “một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”. Rõ ràng niềm tin và sự hiểu biết về Đấng Mêsia của họ còn non yếu.

Chỉ đến khi hai môn đệ nói xong, người khách lạ ấy mới lên tiếng chê trách hai ông: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí của các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Người khách lạ khai mở tâm trí họ để họ nhìn vào Kinh Thánh bằng một cái nhìn mới, hướng dẫn họ về việc các ngôn sứ đã loan báo trước về Đấng Mêsia sẽ chịu đau khổ và chịu chết thế nào để rồi đi vào vinh quang ra sao. Cái chết của Đức Giêsu không phải là kết thúc một giấc mơ, nhưng  là để làm trọn lời Kinh Thánh.

Khi gần tới làng họ muốn đến, người khách lạ làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép người khách lạ : “ Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.”  Khi ngồi đồng bàn với họ, người khách lạ cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và nhận ra Đức Giêsu, nhưng Ngài đã biến mất. Điều chính yếu đã đến với hai môn đệ trên đường Emmau là niềm tin rằng Đức Giêsu yêu thương họ. Chính niềm tin này làm cho tâm hồn họ bừng cháy như lời họ đã xác nhận: “ Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”

Chỉ một người khách lạ trên đường Emmau, nhưng hai môn đệ lại nhìn với hai cái nhìn khác nhau. Với con mắt trần tục, hai ông chỉ nhìn người đồng hành với mình là một người khách lạ; nhưng sau khi được người khách lạ giải thích Kinh Thánh, hướng dẫn họ nhìn Đấng Kitô bằng một cái nhìn mới và được thấy lại những cử chỉ Đức Giêsu đã làm trong bữa Tiệc Ly, bằng con mắt đức tin họ đã nhận ra người khách lạ là Đức Giêsu Phục sinh. Từ những người đánh mất niềm tin bằng thất vọng, Đức Giêsu Phục sinh đã hướng dẫn họ  đến niềm tin bằng hy vọng.

Khi nhận ra người khách lạ chính là Thầy mình, bất kể đường dài mệt nhọc, “ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem gặp nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó.” Họ đã trở lại với cộng  đoàn. Họ được tái sinh trong đức tin trong cộng đồng huynh đệ. Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau là bản lược đồ hay khuôn mẫu của Bí tích Thánh Thể: Phụng vụ Thánh Thể theo sau Phụng vụ Lời Chúa

Cuộc sống của mỗi người Kitô hữu hôm nay cũng có những lúc mang tâm trạng như hai môn đệ trên đường đi Emmau do những nỗi tuyệt vọng, thất bại, buồn phiền, đau khổ. Đức Giêsu sống lại luôn đồng hành với chúng ta và lắng nghe chúng ta trong cuộc hành trình này.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật III Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật III Phục Sinh Năm A

CHÚA NHẬT 04-30-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 2, 14. 22-28

"Không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong cõi chết".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Hỡi các người Do-thái và tất cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi những người Israel, hãy nghe những lời này: Đức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng Đavít đã nói về Người rằng: 'Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông: vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa'". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10. 11

Đáp: Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh (c. 11a).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa. Con thưa cùng Chúa: "Ngài là chúa tể con, Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con". – Đáp.

2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. – Đáp.

3) Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy sự hư nát. – Đáp.

4) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 1, 17-21

"Anh em được cứu độ bằng Máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, nếu anh em gọi Người là Cha, Đấng không thiên vị ai khi xét đoán mỗi người theo việc họ làm, thì anh em hãy sống trong sự kính sợ suốt thời anh em còn lưu trên đất khách. Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. Người đã được tiền định trước khi tác thành vũ trụ và được tỏ bày trong thời sau hết vì anh em. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho Người sống lại từ cõi chết, và ban vinh quang cho Người để anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng nơi Thiên Chúa. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: x. Lc 24, 32

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 24, 13-35

"Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Đang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".

Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.

Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. Đó là lời Chúa.

 

Third Sunday of Easter

SUNDAY 04-30-2017

Reading 1 Acts 2:14, 22-33

Then Peter stood up with the Eleven,
raised his voice, and proclaimed:
"You who are Jews, indeed all of you staying in Jerusalem.
Let this be known to you, and listen to my words.
You who are Israelites, hear these words.
Jesus the Nazarene was a man commended to you by God
with mighty deeds, wonders, and signs,
which God worked through him in your midst, as you yourselves know.
This man, delivered up by the set plan and foreknowledge of God,
you killed, using lawless men to crucify him.
But God raised him up, releasing him from the throes of death,
because it was impossible for him to be held by it.
For David says of him:
I saw the Lord ever before me,
with him at my right hand I shall not be disturbed.
Therefore my heart has been glad and my tongue has exulted;
my flesh, too, will dwell in hope,
because you will not abandon my soul to the netherworld,
nor will you suffer your holy one to see corruption.
You have made known to me the paths of life;
you will fill me with joy in your presence.

"My brothers, one can confidently say to you
about the patriarch David that he died and was buried,
and his tomb is in our midst to this day.
But since he was a prophet and knew that God had sworn an oath to him
that he would set one of his descendants upon his throne,
he foresaw and spoke of the resurrection of the Christ,
that neither was he abandoned to the netherworld
nor did his flesh see corruption.
God raised this Jesus;
of this we are all witnesses.
Exalted at the right hand of God,
he received the promise of the Holy Spirit from the Father
and poured him forth, as you see and hear."

Responsorial Psalm Ps 16:1-2, 5, 7-8, 9-10, 11

R. (11a) Lord, you will show us the path of life.
or:
R. Alleluia.
Keep me, O God, for in you I take refuge;
I say to the LORD, "My Lord are you."
O LORD, my allotted portion and my cup,
you it is who hold fast my lot.
R. Lord, you will show us the path of life.
or:
R. Alleluia.
I bless the LORD who counsels me;
even in the night my heart exhorts me.
I set the LORD ever before me;
with him at my right hand I shall not be disturbed.
R. Lord, you will show us the path of life.
or:
R. Alleluia.
Therefore my heart is glad and my soul rejoices,
my body, too, abides in confidence;
because you will not abandon my soul to the netherworld,
nor will you suffer your faithful one to undergo corruption.
R. Lord, you will show us the path of life.
or:
R. Alleluia.
You will show me the path to life,
abounding joy in your presence,
the delights at your right hand forever.
R. Lord, you will show us the path of life.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 1 Pt 1:17-21

Beloved:
If you invoke as Father him who judges impartially
according to each one's works,
conduct yourselves with reverence during the time of your sojourning,
realizing that you were ransomed from your futile conduct,
handed on by your ancestors,
not with perishable things like silver or gold
but with the precious blood of Christ
as of a spotless unblemished lamb.

He was known before the foundation of the world
but revealed in the final time for you,
who through him believe in God
who raised him from the dead and gave him glory,
so that your faith and hope are in God.

Alleluia Cf. Lk 24:32

R. Alleluia, alleluia.
Lord Jesus, open the Scriptures to us;
make our hearts burn while you speak to us.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Lk 24:13-35

That very day, the first day of the week,
two of Jesus' disciples were going
to a village seven miles from Jerusalem called Emmaus,
and they were conversing about all the things that had occurred.
And it happened that while they were conversing and debating,
Jesus himself drew near and walked with them,
but their eyes were prevented from recognizing him.
He asked them,
"What are you discussing as you walk along?"
They stopped, looking downcast.
One of them, named Cleopas, said to him in reply,
"Are you the only visitor to Jerusalem
who does not know of the things
that have taken place there in these days?"
And he replied to them, "What sort of things?"
They said to him,
"The things that happened to Jesus the Nazarene,
who was a prophet mighty in deed and word
before God and all the people,
how our chief priests and rulers both handed him over
to a sentence of death and crucified him.
But we were hoping that he would be the one to redeem Israel;
and besides all this,
it is now the third day since this took place.
Some women from our group, however, have astounded us:
they were at the tomb early in the morning
and did not find his body;
they came back and reported
that they had indeed seen a vision of angels
who announced that he was alive.
Then some of those with us went to the tomb
and found things just as the women had described,
but him they did not see."
And he said to them, "Oh, how foolish you are!
How slow of heart to believe all that the prophets spoke!
Was it not necessary that the Christ should suffer these things
and enter into his glory?"
Then beginning with Moses and all the prophets,
he interpreted to them what referred to him
in all the Scriptures.
As they approached the village to which they were going,
he gave the impression that he was going on farther.
But they urged him, "Stay with us,
for it is nearly evening and the day is almost over."
So he went in to stay with them.
And it happened that, while he was with them at table,
he took bread, said the blessing,
broke it, and gave it to them.
With that their eyes were opened and they recognized him,
but he vanished from their sight.
Then they said to each other,
"Were not our hearts burning within us
while he spoke to us on the way and opened the Scriptures to us?"
So they set out at once and returned to Jerusalem
where they found gathered together
the eleven and those with them who were saying,
"The Lord has truly been raised and has appeared to Simon!"
Then the two recounted
what had taken place on the way
and how he was made known to them in the breaking of bread.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT II MÙA PHỤC SINH

CỦNG CỐ ĐỨC TIN

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Có một chi tiết đặc biệt liên quan tới đoạn Phúc Âm vừa nghe, đó là cùng một đoạn Phúc Âm này đã được chọn để dùng cho Chúa Nhật thứ hai phục sinh cho ba năm liền A, B, và C, nghĩa là năm nào vào Chúa Nhật thứ hai phục sinh, chúng ta cũng đều đọc, nghe đoạn Phúc Âm này. Chi tiết này nói lên tầm quan trọng và ý nghĩa phong phú trong Mùa Phục Sinh. Chúa Giêsu Phục Sinh là trung tâm và là nguồn năng lực tái tạo cộng đoàn những đồ đệ của Chúa.

Ngay từ khởi đầu đoạn Phúc Âm, chúng ta được nhắc lại việc Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ nhưng lại vắng mặt Thomas, và trong lần hiện ra này, Chúa đã ban cho các tông đồ sự bình an: "Bình an cho các con". Sự bình an này làm cho các tông đồ thực sự được vui mừng. Các tông đồ được vui vì thấy Chúa, rồi Chúa trao ban cho các tông đồ Chúa Thánh Thần, quyền năng tha tội và sai các ông ra đi làm chứng cho Chúa. Các tông đồ có thể nói được trong giai đoạn này – trong phần thứ nhất của đoạn Phúc Âm hôm nay – đã tin phần nào và đã chia sẻ cho Thomas: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa", nhưng Thomas không tin và đòi kiểm chứng một cách cụ thể. Có thể nói, đây là giai đoạn thứ hai của cộng đoàn. Thái độ cứng lòng tin của Thomas đã gây chia rẽ hay làm yếu kém đi sức mạnh làm chứng của cộng đoàn cho Chúa Phục Sinh. Một cộng đoàn chia rẽ như vậy thì chắc chắn không thể nào có sự bình an, không thể nào có niềm vui để làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

Cộng đoàn Kitô chúng ta ngày hôm nay là một cộng đoàn của những người tin Chúa Phục Sinh đã qui tụ lại. Chắc chắn Chúa Phục Sinh hiện diện ở giữa chúng ta, Ngài là trung tâm liên kết và nâng đỡ sự hiệp nhất của cộng đoàn chúng ta, Ngài là nguồn mạch của sự bình an và niềm vui của cộng đoàn chúng ta. Chúa Phục Sinh ban cho cộng đoàn các đồ đệ đầu tiên sự bình an, Chúa Thánh Thần và sức mạnh làm chứng cho Chúa. Đó là một cộng đoàn lý tưởng cho tất cả mọi cộng đoàn Kitô khác rải rác khắp nơi trên thế giới, qua muôn thế hệ. Đó là một cộng đoàn lý tưởng, trong đó niềm vui và sự bình an đã thay thế cho sự u buồn thất vọng: thấy Chúa các tông đồ đều vui mừng. Và niềm vui, sự bình an này luôn luôn là dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa. Nhưng vì là những con người cụ thể, như chúng ta đây, mỗi người đều có những giới hạn của mình và cộng đoàn của chúng ta, cộng đoàn của các môn đệ Chúa chắc chắn phải trải qua những thử thách, những trở ngại.

Sự vắng mặt, sự cứng lòng tin của Thomas, thái độ của Thomas, tất cả những điều đó đã góp phần hay ảnh hưởng trên sự hiệp nhất của cộng đoàn. Sự vắng mặt của chúng ta, sự cứng lòng tin của mỗi người chúng ta hay thái độ của chúng ta đối với Chúa Giêsu cũng như đối với anh chị em, thái độ đó cũng có ảnh hưởng trên sự hiệp nhất của cộng đoàn. Chúa Giêsu đã đáp lại khuyết điểm này của cộng đoàn các tông đồ để mang lại niềm vui và sự bình an, để trao ban sứ mạng qua việc Chúa đáp lại đòi hỏi của Thomas để biến đổi ông, và Thomas đã tin và tuyên xưng: "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa Trời tôi, Lạy Chúa và là Chúa Trời con". Và Chúa Giêsu dường như muốn cho các môn đệ của Ngài từ đó không nên thách thức như Thomas nữa: "Phúc cho những ai không thấy mà tin".

Cộng đoàn chúng ta hôm nay cần thực hiện lý tưởng của cộng đoàn Kitô tiên khởi của các đồ đệ. Hãy để cho Chúa Giêsu Phục Sinh qui tụ chúng ta lại trong tình yêu của Người, hãy đón nhận sự bình an của Chúa trong niềm vui nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần để làm chứng một cách xứng đáng cho Chúa. Nhưng như vừa nói chúng ta đây là những con người có giới hạn và Chúa Phục Sinh cũng đã hiểu như thế nên Ngài đã thiết lập và để lại cho chúng ta một phương thế để tái tạo sự hiệp nhất của cộng đoàn, để gìn giữ cộng đoàn được luôn hiệp nhất với Chúa và giữa mọi người với nhau, phương thế đó là bí tích Hòa Giải: "Các con tha tội cho ai thì trên trời cũng tha; các con cầm tội ai thì trên trời cũng cầm lại".

Không có phương pháp nhân loại nào khác có sức phục hồi và củng cố sự hiệp nhất cộng đoàn các môn đệ Chúa cho bằng phương thế siêu nhiên mà Chúa Giêsu đã thiết lập và muốn cho các tông đồ sử dụng, và chúng ta biết rất rõ phương thế đó là phương thế nào. Đó là sự tha thứ bí tích, và đó cũng là bí tích của sự tha thứ. Dĩ nhiên, để lãnh nhận bí tích tha thứ của Chúa để chúng ta được tha thứ và tha thứ cho nhau, để xây dựng lại sự hiệp nhất cộng đoàn các môn đệ Chúa, để làm cho cộng đoàn chúng ta có thể chu toàn sứ mệnh Chúa đã trao phó "Hãy làm chứng cho Thầy", thì mỗi người chúng ta cần hành động như Thomas, cần kiểm điểm lại đức tin của mình và loại bỏ đi những gì không phù hợp với đức tin trong nếp sống của chúng ta, để có thể khiêm tốn tuyên xưng mỗi ngày, mỗi giây phút: "Lạy Chúa, Lạy Chúa Trời con, Lạy Chúa, con tin Chúa là Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ của con." Cần phải canh tân đức tin hàng ngày để đức tin của chúng ta được củng cố thêm mãi, để chúng ta có được sự bình an, niềm vui và sức mạnh làm chứng cho Chúa mọi nơi, mọi lúc.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta canh tân đức tin và củng cố đức tin.

Veritas Radio

 

GẶP GỠ CHÚA KITÔ PHỤC SINH

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bần loạn sau cái chết của Thầy, Chúa Kitô Phục Sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”.

Trong suốt Tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục Sinh đến nay, Chúa Nhật II Phục Sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra. Từ những lần thấy  Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

Chúa Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Chúa Kitô Phục Sinh không con bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nới các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmaus, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đang đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syria, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Chúa Kitô Phục Sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Chúa Kitô Phục Sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở làng Emmaus khi trời sắp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Chúa Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào mà Người không ở bên ta.

Chúa Kitô Phục Sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn. bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmaus, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

Chúa Ktô Phục Sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bần loạn sau cái chết của Thầy, Chúa Kitô Phục Sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần”. Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần Linh Chúa bay là  là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Chúa Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Chúa Kitô Phục Sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmaus u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn nấp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Chúa Kitô Phục Sinh chính là niềm bình  an cho các ông.

Chúa Kitô Phục Sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Chúa Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. không, họ không con sống nữa vì cuộc đời đối với họchẳng còn ý nghĩa gì. họ như đã chết với Thầy. chỉ có nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Chúa Kitô là linh hồn của họ. linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Chúa Kitô Phục Sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp Người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

Chúa Kitô Phục Sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh.

Chúa Kitô Phục Sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc sống các môn đệ. Chúa Kitô Phục Sinh là Tin Mừng lớn lào trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmaus lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một Người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Chúa Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”.

Tất cả những Người đã thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Chúa Kitô Phục Sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Chúa Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Hôm nay Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến khi mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta. Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm. Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú mẹ. Người ở bên em học sinh đang mải mê đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên những cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người. Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

 

CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG TIN LÀ CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG MẾN

Lòng thương xót của Chúa được biểu lộ qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá. Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn

Chúa nhật II phục sinh, Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương. Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta” (Tiểu nhật ký, số 699). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005). Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được biểu lộ qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá. Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo. Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa. Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao ban bình an, là Chúa cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài. Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi. Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin.

Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Thánh Matthêu thuật lại : khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ : Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi. Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17). Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên.

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay. Chỉ tin những gì thấy được. Chỉ chấp nhận những gì sờ được. Đòi kiểm nghiệm tất cả. Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả. Không chỉ tin vào lời nói suông. Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác. Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin. Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma? Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã. Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì ‘thấy được, sờ được’. Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe. Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta. Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại. Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa. Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng. Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng ‘lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi’. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình : “Lạy Thiên Chúa của con”. Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói : “người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi”. Nhà thần học Paul Tillich nói : “sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin. Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh”. Còn Thomas Merton bảo: “người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin”. Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: “Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững”. Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy. Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy,tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma : “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28). Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra. Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan là tức khắc nhận ra đó là Thầy mình. Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn.

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc. Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó. Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời. Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để đào sâu đức tin và canh tân chứng tá Kitô giáo. Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi. Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót. Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót.

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân. Mỗi người, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ. Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12). Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn Dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống. Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống”.

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con. Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa”. Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến. Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc. Càng tin vững thì càng bình an. Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến. “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa.   

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Nhật Tuần II Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật Tuần II Phục Sinh Năm A

LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

CHÚA NHẬT 04-23-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 2, 42-47

"Tất cả mọi kẻ tin, đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện. Mọi người đều có lòng kính sợ. Vì các Tông đồ làm nhiều việc phi thường và nhiều phép lạ tại Giêrusalem, nên mọi người đều sợ hãi. Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung.

Họ bán tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người.

Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ; họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến chuộng. Hằng ngày Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 2-4. 13-15. 22-24

Đáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở"Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". – Đáp.

2) Tôi đã bị đẩy, bị xô cho ngã xuống, nhưng Chúa đã phù trợ tôi. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của tôi, và Người trở nên Đấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang lên trong cư xá những kẻ hiền nhân. Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.- Đáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 1, 3-9

"Nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết. Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải sầu khổ một ít lâu giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện, nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự khi Đức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 20, 29

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31

"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Đoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người. Đó là lời Chúa.

 

Second Sunday of Easter (or Sunday of Divine Mercy)

SUNDAY 04-23-2017

Reading 1 Acts 2:42-47

They devoted themselves
to the teaching of the apostles and to the communal life,
to the breaking of bread and to the prayers.
Awe came upon everyone,
and many wonders and signs were done through the apostles.
All who believed were together and had all things in common;
they would sell their property and possessions
and divide them among all according to each one's need.
Every day they devoted themselves
to meeting together in the temple area
and to breaking bread in their homes.
They ate their meals with exultation and sincerity of heart,
praising God and enjoying favor with all the people.
And every day the Lord added to their number those who were being saved.

Responsorial Psalm Ps 118:2-4, 13-15, 22-24

R. (1) Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.
Let the house of Israel say,
"His mercy endures forever."
Let the house of Aaron say,
"His mercy endures forever."
Let those who fear the LORD say,
"His mercy endures forever."
R. Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.
I was hard pressed and was falling,
but the LORD helped me.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
The joyful shout of victory
in the tents of the just:
R. Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.
The stone which the builders rejected
has become the cornerstone.
By the LORD has this been done;
it is wonderful in our eyes.
This is the day the LORD has made;
let us be glad and rejoice in it.
R. Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 1 Pt 1:3-9

Blessed be the God and Father of our Lord Jesus Christ,
who in his great mercy gave us a new birth to a living hope
through the resurrection of Jesus Christ from the dead,
to an inheritance that is imperishable, undefiled, and unfading,
kept in heaven for you
who by the power of God are safeguarded through faith,
to a salvation that is ready to be revealed in the final time.
In this you rejoice, although now for a little while
you may have to suffer through various trials,
so that the genuineness of your faith,
more precious than gold that is perishable even though tested by fire,
may prove to be for praise, glory, and honor
at the revelation of Jesus Christ.
Although you have not seen him you love him;
even though you do not see him now yet believe in him,
you rejoice with an indescribable and glorious joy,
as you attain the goal of your faith, the salvation of your souls.

Alleluia Jn 20:29

R. Alleluia, alleluia.
You believe in me, Thomas, because you have seen me, says the Lord;
blessed are they who have not seen me, but still believe!
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 20:19-31

On the evening of that first day of the week,
when the doors were locked, where the disciples were,
for fear of the Jews,
Jesus came and stood in their midst
and said to them, "Peace be with you."
When he had said this, he showed them his hands and his side.
The disciples rejoiced when they saw the Lord.
Jesus said to them again, "Peace be with you.
As the Father has sent me, so I send you."
And when he had said this, he breathed on them and said to them,
"Receive the Holy Spirit.
Whose sins you forgive are forgiven them,
and whose sins you retain are retained."

Thomas, called Didymus, one of the Twelve,
was not with them when Jesus came.
So the other disciples said to him, "We have seen the Lord."
But he said to them,
"Unless I see the mark of the nails in his hands
and put my finger into the nailmarks
and put my hand into his side, I will not believe."

Now a week later his disciples were again inside
and Thomas was with them.
Jesus came, although the doors were locked,
and stood in their midst and said, "Peace be with you."
Then he said to Thomas, "Put your finger here and see my hands,
and bring your hand and put it into my side,
and do not be unbelieving, but believe."
Thomas answered and said to him, "My Lord and my God!"
Jesus said to him, "Have you come to believe because you have seen me?
Blessed are those who have not seen and have believed."

Now, Jesus did many other signs in the presence of his disciples
that are not written in this book.
But these are written that you may come to believe
that Jesus is the Christ, the Son of God,
and that through this belief you may have life in his name.

 

ÁNH SÁNG CUỐI CON ĐƯỜNG

 ÁNH SÁNG CUỐI CON ĐƯỜNG

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Bài đọc 1 : ( Cv 10:34,37-43). Bài đọc 2 : (Cl 3: 1-4). Tin Mừng : (Ga 20:1-9)

Táng xác Thầy vội vã chưa kịp làm đúng các thủ tục phải có, sáng sớm, ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala và mấy phụ nữ nữa mua dầu thơm để đi ướp xác Thầy. Các bà lo âu : Tảng đá nặng thế, ai sẽ lăn ra được đây. Thật bất ngờ, khi đến mộ, tảng đá đã được lăn ra; nhìn vào trong, các bà chẳng thấy có ai. Ngôi mộ trống. Hoảng hốt, các bà chạy về báo cho ông Phêrô và người môn đệ Thầy yêu mến: “ Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu? “ Có người đã đánh cắp xác Thầy rồi ư! Phêrô và Gioan cùng chạy ra mồ. Còn trai trẻ, Gioan tới mộ trước. Ông thấy những băng vải vẫn còn đó, nhưng không vào. Chờ cho Phêrô đến, cả hai cùng vào. Họ tận mắt nhìn thấy “ngôi mộ trống, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuộn lại, xếp riêng ra một nơi.” Qua những đấu hiệu ấy và dựa vào lời Kinh Thánh, ông Gioan đã thấy và ông đã tin. “  Những gì ông  thấy chỉ để minh chứng cho những gì ông đã được biết qua Kinh Thánh về những gì Đấng Mêsia sẽ phải trải qua.  Ông xác tín Thầy đã sống lại vì ông có một niềm tin vào truyền thống của dân Chúa, và vào những gì Thiên đã Chúa mặc khải qua thời gian.

Chúa Giêsu đã sống lại. Allêluia! Đó là tin vui và niềm hy vọng  cho cả nhân loại, và cho những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa như thánh Phaolô đã nói : “Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn con sống trong tội lỗi của anh em.” và ngài làm chứng rằng: “ Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đứng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.” Rồi ngài kết luận: “ Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng  tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.”

Chúng ta tin Chúa sống lại nhưng không trực tiếp tiếp cận với những biến cố đã xảy ra, nhưng qua những chứng nhân là các môn đệ và Kinh Thánh. Vì thế mọi sự trở nên bấp bênh và khó khăn hơn; nhưng với thời gian và với niềm tin Con Thiên Chúa đã đồng hành với chúng ta qua thời gian, những điều đó chứng minh rằng chúng ta chứng kiến mầu nhiệm phục sinh bằng niềm tin.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu cho phép chúng ta tin tưởng và vui mừng về sự phụ sinh của chúng ta. Nguyên lý của đời sống mới là  kết hợp với Đức Kitô phục sinh như thánh Phaolô đã viết: “ Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” nếu  chúng ta tin Đức Kitô đã chỗi dậy để chỉ đặt niềm tin vì cuộc đời này hơn là vì cuộc sống ngày mai thì thật tội nghiệp như lời thánh  Phaolô  đã nói:  “ Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.”

Vậy chúng  ta phải sống niềm tin ấy như thế nào? Mơ hồ về số phận con người sau cái chết! hay thương nhớ người thân bằng môt tâm tình sẽ phôi phai theo thời gian! Dường như chúng ta vẫn còn nhập nhằng chưa dứt khóat về cuộc sống trần gian và cuộc sống vĩnh cửu trên Nước Thiên Chúa.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

 

 

Chúa Nhật Phục Sinh

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

CHÚA NHẬT 04-16-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 10, 34a. 37-43

"Chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: "Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Đấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Đáp: Đây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó (c. 24).

1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". – Đáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Đáp. 

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Cl 3, 1-4

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang. Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc: 1 Cr 5, 6b-8

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.

Anh em thân mến, anh em không biết sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới; anh em là bánh không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Đức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật. Đó là lời Chúa.

CA TIẾP LIÊN

Các Kitô hữu hãy tiến dâng lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua. Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ: Đức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha. Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị. Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghebà đã thấy gì trên quãng đường đi? Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống và vinh quang của Đấng Phục Sinh, thấy các thiên thần làm chứng, thấy khăn liệm và y phục. Đức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh, Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.

Chúng tôi biết Đức Kitô đã sống lại thật từ cõi chết! Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.

ALLELUIA: 1 Cr 5, 7b-8a

Alleluia, alleluia! – Lễ Vượt Qua của chúng ta là Đức Kitô đã hiến tế; vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa. – Alleluia. 

PHÚC ÂM: Ga 20, 1-9

"Người phải sống lại từ cõi chết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết. Đó là lời Chúa.

======================

Hay

PHÚC ÂM: Mt 28, 1-10

"Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ .Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: "Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Đây Ta đã báo trước cho các bà hay".

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta". Đó là lời Chúa.

The Resurrection of the Lord
The Mass of Easter Day

SUNDAY 04-16-2017

Reading 1 Acts 10:34a, 37-43

Peter proceeded to speak and said:
"You know what has happened all over Judea,
beginning in Galilee after the baptism
that John preached,
how God anointed Jesus of Nazareth
with the Holy Spirit and power.
He went about doing good
and healing all those oppressed by the devil,
for God was with him.
We are witnesses of all that he did
both in the country of the Jews and in Jerusalem.
They put him to death by hanging him on a tree.
This man God raised on the third day and granted that he be visible,
not to all the people, but to us,
the witnesses chosen by God in advance,
who ate and drank with him after he rose from the dead.
He commissioned us to preach to the people
and testify that he is the one appointed by God
as judge of the living and the dead.
To him all the prophets bear witness,
that everyone who believes in him
will receive forgiveness of sins through his name."

Responsorial Psalm Ps 118:1-2, 16-17, 22-23

R. (24) This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.
Give thanks to the LORD, for he is good,
for his mercy endures forever.
Let the house of Israel say,
"His mercy endures forever."
R. This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.
"The right hand of the LORD has struck with power;
the right hand of the LORD is exalted.
I shall not die, but live,
and declare the works of the LORD."
R. This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.
The stone which the builders rejected
has become the cornerstone.
By the LORD has this been done;
it is wonderful in our eyes.
R. This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 Col 3:1-4

Brothers and sisters:
If then you were raised with Christ, seek what is above,
where Christ is seated at the right hand of God.
Think of what is above, not of what is on earth.
For you have died, and your life is hidden with Christ in God.
When Christ your life appears,
then you too will appear with him in glory.

or 1 Cor 5:6b-8

Brothers and sisters:
Do you not know that a little yeast leavens all the dough?
Clear out the old yeast,
so that you may become a fresh batch of dough,
inasmuch as you are unleavened.
For our paschal lamb, Christ, has been sacrificed.
Therefore, let us celebrate the feast,
not with the old yeast, the yeast of malice and wickedness,
but with the unleavened bread of sincerity and truth.

Sequence — Victimae Paschali Laudes

Christians, to the Paschal Victim
Offer your thankful praises!
A Lamb the sheep redeems;
Christ, who only is sinless,
Reconciles sinners to the Father.
Death and life have contended in that combat stupendous:
The Prince of life, who died, reigns immortal.
Speak, Mary, declaring
What you saw, wayfaring.
"The tomb of Christ, who is living,
The glory of Jesus' resurrection;
bright angels attesting,
The shroud and napkin resting.
Yes, Christ my hope is arisen;
to Galilee he goes before you."
Christ indeed from death is risen, our new life obtaining.
Have mercy, victor King, ever reigning!
Amen. Alleluia.

Alleluia Cf. 1 Cor 5:7b-8a

R. Alleluia, alleluia.
Christ, our paschal lamb, has been sacrificed;
let us feast with joy in the Lord.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 20:1-9

On the first day of the week,
Mary of Magdala came to the tomb early in the morning,
while it was still dark,
and saw the stone removed from the tomb.
So she ran and went to Simon Peter
and to the other disciple whom Jesus loved, and told them,
"They have taken the Lord from the tomb,
and we don't know where they put him."
So Peter and the other disciple went out and came to the tomb.
They both ran, but the other disciple ran faster than Peter
and arrived at the tomb first;
he bent down and saw the burial cloths there, but did not go in.
When Simon Peter arrived after him,
he went into the tomb and saw the burial cloths there,
and the cloth that had covered his head,
not with the burial cloths but rolled up in a separate place.
Then the other disciple also went in,
the one who had arrived at the tomb first,
and he saw and believed.
For they did not yet understand the Scripture
that he had to rise from the dead.

Or Mt 28:1-10

After the sabbath, as the first day of the week was dawning,
Mary Magdalene and the other Mary came to see the tomb.
And behold, there was a great earthquake;
for an angel of the Lord descended from heaven,
approached, rolled back the stone, and sat upon it.
His appearance was like lightning
and his clothing was white as snow.
The guards were shaken with fear of him
and became like dead men.
Then the angel said to the women in reply,
"Do not be afraid!
I know that you are seeking Jesus the crucified.
He is not here, for he has been raised just as he said.
Come and see the place where he lay.
Then go quickly and tell his disciples,
'He has been raised from the dead,
and he is going before you to Galilee;
there you will see him.'
Behold, I have told you."
Then they went away quickly from the tomb,
fearful yet overjoyed,
and ran to announce this to his disciples.
And behold, Jesus met them on their way and greeted them.
They approached, embraced his feet, and did him homage.
Then Jesus said to them, "Do not be afraid.
Go tell my brothers to go to Galilee,
and there they will see me."

Or Lk 24:13-35

At an afternoon or evening Mass.

That very day, the first day of the week,
two of Jesus' disciples were going
to a village seven miles from Jerusalem called Emmaus,
and they were conversing about all the things that had occurred.
And it happened that while they were conversing and debating,
Jesus himself drew near and walked with them,
but their eyes were prevented from recognizing him.
He asked them,
"What are you discussing as you walk along?"
They stopped, looking downcast.
One of them, named Cleopas, said to him in reply,
"Are you the only visitor to Jerusalem
who does not know of the things
that have taken place there in these days?"
And he replied to them, "What sort of things?"
They said to him,
"The things that happened to Jesus the Nazarene,
who was a prophet mighty in deed and word
before God and all the people,
how our chief priests and rulers both handed him over
to a sentence of death and crucified him.
But we were hoping that he would be the one to redeem Israel;
and besides all this,
it is now the third day since this took place.
Some women from our group, however, have astounded us:
they were at the tomb early in the morning
and did not find his body;
they came back and reported
that they had indeed seen a vision of angels
who announced that he was alive.
Then some of those with us went to the tomb
and found things just as the women had described,
but him they did not see."
And he said to them, "Oh, how foolish you are!
How slow of heart to believe all that the prophets spoke!
Was it not necessary that the Christ should suffer these things
and enter into his glory?"
Then beginning with Moses and all the prophets,
he interpreted to them what referred to him
in all the Scriptures.
As they approached the village to which they were going,
he gave the impression that he was going on farther.
But they urged him, "Stay with us,
for it is nearly evening and the day is almost over."
So he went in to stay with them.
And it happened that, while he was with them at table,
he took bread, said the blessing,
broke it, and gave it to them.
With that their eyes were opened and they recognized him,
but he vanished from their sight.
Then they said to each other,
"Were not our hearts burning within us
while he spoke to us on the way and opened the Scriptures to us?"
So they set out at once and returned to Jerusalem
where they found gathered together
the eleven and those with them who were saying,
"The Lord has truly been raised and has appeared to Simon!"
Then the two recounted
what had taken place on the way
and how he was made known to them in the breaking of bread.

 

THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

THỨ BẢY 04-15-2017

Đề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài Trích ở Cựu Ước và hai bài trích ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích sách Xuất Hành (Xh 14, 15 – 15, 1) nói về việc qua Biển Đỏ.

BÀI ĐỌC I: St 1, 1 – 2, 2 {hoặc 1, 1. 26-31a}

"Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp".

Trích sách Sáng Thế.

Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Đất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước.

Thiên Chúa phán: "Hãy có ánh sáng". Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Thiên Chúa phán: "Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước"; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

Thiên Chúa phán: "Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Đất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

Thiên Chúa còn phán: "Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

Thiên Chúa lại phán: "Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.

Thiên Chúa lại phán: "Đất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất".

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi. Đó là lời Chúa.

__________________________
Hoặc bài vắn này: St 1, 1. 26-31a

Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất".

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22

Đáp: Địa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).

1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.

2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng.- Đáp.

3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái loài người. – Đáp.

4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Đấng phù trợ và che chở chúng tôi. – Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: St 22, 1-18 (Bài dài)

"Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham". Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi". Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa đã tỏ cho ông.

Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng xa. Abraham mới bảo tôi tớ: "Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ về lại với các anh". Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước. Isaác cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: "Cha!" Ông đáp: "Ta đây, con!" Cậu hỏi: "Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng hiến ở đâu?" Abraham đáp: "Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ". Rồi cả hai cùng bước.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là "Thiên Chúa sẽ liệu", khiến ngày nay người ta còn nói: "Trên núi Thiên Chúa sẽ liệu".

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta". Đó là lời Chúa.

_______________________________________
Hoặc đọc bài vắn này: St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham". Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi".

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình.

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 15, 5 và 8. 9-10. 11

Đáp: Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1a).

1) Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. – Đáp.

2) Bởi thế, lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy điều hư nát. – Đáp.

3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Đáp.

BÀI ĐỌC III: Xh 14, 15 – 15, 1

"Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn".

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết".

Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.

Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: "Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta".

Chúa phán bảo Môsê: "Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng". Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người.

Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này:
(Không đọc: Đó là lời Chúa).

ĐÁP CA: Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18

Đáp: Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. – Đáp.

2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Đỏ các tướng lãnh của ông. – Đáp.

3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. – Đáp.

4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp. – Đáp.

BÀI ĐỌC IV: Is 54, 5-14

"Trong tình yêu vĩnh cửu, Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi".
Trích sách Tiên tri Isaia.

Đấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa các cơ binh, Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đấng Thánh Israel, Người sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.

Thiên Chúa ngươi đã phán: "Chúa gọi ngươi như gọi người thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi, Chúa là Đấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.

Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi, không quở trách ngươi nữa.

Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.

Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy thuỷ tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành ngươi.

Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng một nền hoà bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ không có ai hãm hại được ngươi nữa". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11 và 12a và 13b

Đáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).

1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. – Đáp.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.- Đáp.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. – Đáp.

BÀI ĐỌC V: Is 55, 1-11

"Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mỹ vị.

Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Đavít: Đây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.

Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.

Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6

Đáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Đấng Cứu Độ (c. 3).

1) Đây Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Đấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. – Đáp.

2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. – Đáp.

3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Đấng cao cả là Đấng Thánh Israel ở giữa ngươi. – Đáp.

BÀI ĐỌC VI: Br 3, 9-15. 32 – 4, 4

"Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa".

Trích sách Tiên tri Barúc.

Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe để hiểu biết sự khôn ngoan.

Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng nếu ngươi theo đường lối Chúa,thì ngươi đã luôn sống trong bình an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? Chính Đấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do đức khôn ngoan của Người.

Người là Đấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng trả lời rằng: "Có mặt". Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Đấng sáng tạo chúng.

Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó, Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.

Đó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết. Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Đừng trao vinh quang ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp lòng Chúa. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 18, 8. 9. 10. 11

Đáp: Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. – Đáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. – Đáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy. – Đáp.

4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy từ tàng ong. – Đáp.

BÀI ĐỌC VII: Ed 36, 16-17a. 18-28

"Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Đây lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: "Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người". Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ.

Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: "Đây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ.
Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần.

Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4

Đáp: Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)

1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời? – Đáp.

2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân tiến vào nhà Đức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi.- Đáp.

3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài. – Đáp.

4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con. – Đáp.

______________________________________
Hoặc (khi có Rửa tội): Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19

Đáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).

1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. – Đáp.

2) Xin Chúa lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. – Đáp.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. – Đáp.

THÁNH THƯ: Rm 6, 3-11

"Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại, Người không chết nữa".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.

Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi.

Mà nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Đức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Đáp: Alleluia, alleluia, alleluia.

1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". – Đáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Đáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Đáp.

PHÚC ÂM: Mt 28, 1-10

"Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: "Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Đây Ta đã báo trước cho các bà hay".

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta". Đó là lời Chúa.

Holy Saturday
At the Easter Vigil in the Holy Night of Easter

SATURDAY 04-15-2017
 

Reading 1 Gn 1:1—2:2

In the beginning, when God created the heavens and the earth,
the earth was a formless wasteland, and darkness covered the abyss,
while a mighty wind swept over the waters.

Then God said,
"Let there be light," and there was light.
God saw how good the light was.
God then separated the light from the darkness.
God called the light "day," and the darkness he called "night."
Thus evening came, and morning followed—the first day.

Then God said,
"Let there be a dome in the middle of the waters,
to separate one body of water from the other."
And so it happened:
God made the dome,
and it separated the water above the dome from the water below it.
God called the dome "the sky."
Evening came, and morning followed—the second day.

Then God said,
"Let the water under the sky be gathered into a single basin,
so that the dry land may appear."
And so it happened:
the water under the sky was gathered into its basin,
and the dry land appeared.
God called the dry land "the earth, "
and the basin of the water he called "the sea."
God saw how good it was.
Then God said,
"Let the earth bring forth vegetation:
every kind of plant that bears seed
and every kind of fruit tree on earth
that bears fruit with its seed in it."
And so it happened:
the earth brought forth every kind of plant that bears seed
and every kind of fruit tree on earth
that bears fruit with its seed in it.
God saw how good it was.
Evening came, and morning followed—the third day.

Then God said:
"Let there be lights in the dome of the sky,
to separate day from night.
Let them mark the fixed times, the days and the years,
and serve as luminaries in the dome of the sky,
to shed light upon the earth."
And so it happened:
God made the two great lights,
the greater one to govern the day,
and the lesser one to govern the night;
and he made the stars.
God set them in the dome of the sky,
to shed light upon the earth,
to govern the day and the night,
and to separate the light from the darkness.
God saw how good it was.
Evening came, and morning followed—the fourth day.

Then God said,
"Let the water teem with an abundance of living creatures,
and on the earth let birds fly beneath the dome of the sky."
And so it happened:
God created the great sea monsters
and all kinds of swimming creatures with which the water teems,
and all kinds of winged birds.
God saw how good it was, and God blessed them, saying,
"Be fertile, multiply, and fill the water of the seas;
and let the birds multiply on the earth."
Evening came, and morning followed—the fifth day.

Then God said,
"Let the earth bring forth all kinds of living creatures:
cattle, creeping things, and wild animals of all kinds."
And so it happened:
God made all kinds of wild animals, all kinds of cattle,
and all kinds of creeping things of the earth.
God saw how good it was.
Then God said:
"Let us make man in our image, after our likeness.
Let them have dominion over the fish of the sea,
the birds of the air, and the cattle,
and over all the wild animals
and all the creatures that crawl on the ground."
God created man in his image;
in the image of God he created him;
male and female he created them.
God blessed them, saying:
"Be fertile and multiply;
fill the earth and subdue it.
Have dominion over the fish of the sea, the birds of the air,
and all the living things that move on the earth."
God also said:
"See, I give you every seed-bearing plant all over the earth
and every tree that has seed-bearing fruit on it to be your food;
and to all the animals of the land, all the birds of the air,
and all the living creatures that crawl on the ground,
I give all the green plants for food."
And so it happened.
God looked at everything he had made, and he found it very good.
Evening came, and morning followed—the sixth day.

Thus the heavens and the earth and all their array were completed.
Since on the seventh day God was finished
with the work he had been doing,
he rested on the seventh day from all the work he had undertaken.

or Gn 1:1, 26-31a

In the beginning, when God created the heavens and the earth,
God said: "Let us make man in our image, after our likeness.
Let them have dominion over the fish of the sea,
the birds of the air, and the cattle,
and over all the wild animals
and all the creatures that crawl on the ground."
God created man in his image;
in the image of God he created him;
male and female he created them.
God blessed them, saying:
"Be fertile and multiply;
fill the earth and subdue it.
Have dominion over the fish of the sea, the birds of the air,
and all the living things that move on the earth."
God also said:
"See, I give you every seed-bearing plant all over the earth
and every tree that has seed-bearing fruit on it to be your food;
and to all the animals of the land, all the birds of the air,
and all the living creatures that crawl on the ground,
I give all the green plants for food."
And so it happened.
God looked at everything he had made, and found it very good.

Responsorial Psalm Ps 104:1-2, 5-6, 10, 12, 13-14, 24, 35

R. (30) Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
Bless the LORD, O my soul!
O LORD, my God, you are great indeed!
You are clothed with majesty and glory,
robed in light as with a cloak.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
You fixed the earth upon its foundation,
not to be moved forever;
with the ocean, as with a garment, you covered it;
above the mountains the waters stood.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
You send forth springs into the watercourses
that wind among the mountains.
Beside them the birds of heaven dwell;
from among the branches they send forth their song.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
You water the mountains from your palace;
the earth is replete with the fruit of your works.
You raise grass for the cattle,
and vegetation for man's use,
Producing bread from the earth.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
How manifold are your works, O LORD!
In wisdom you have wrought them all—the earth is full of your creatures.
Bless the LORD, O my soul! Alleluia.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.

or Ps 33:4-5, 6-7, 12-13, 20 and 22

R. (5b) The earth is full of the goodness of the Lord.
Upright is the word of the LORD,
and all his works are trustworthy.
He loves justice and right;
of the kindness of the LORD the earth is full.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.
By the word of the LORD the heavens were made;
by the breath of his mouth all their host.
He gathers the waters of the sea as in a flask;
in cellars he confines the deep.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.
Blessed the nation whose God is the LORD,
the people he has chosen for his own inheritance.
From heaven the LORD looks down;
he sees all mankind.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.
Our soul waits for the LORD,
who is our help and our shield.
May your kindness, O LORD, be upon us
who have put our hope in you.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.

Reading 2 Gn 22:1-18

God put Abraham to the test.
He called to him, "Abraham!"
"Here I am, " he replied.
Then God said:
"Take your son Isaac, your only one, whom you love,
and go to the land of Moriah.
There you shall offer him up as a holocaust
on a height that I will point out to you."
Early the next morning Abraham saddled his donkey,
took with him his son Isaac and two of his servants as well,
and with the wood that he had cut for the holocaust,
set out for the place of which God had told him.

On the third day Abraham got sight of the place from afar.
Then he said to his servants:
"Both of you stay here with the donkey,
while the boy and I go on over yonder.
We will worship and then come back to you."
Thereupon Abraham took the wood for the holocaust
and laid it on his son Isaac's shoulders,
while he himself carried the fire and the knife.
As the two walked on together, Isaac spoke to his father Abraham:
"Father!" Isaac said.
"Yes, son, " he replied.
Isaac continued, "Here are the fire and the wood,
but where is the sheep for the holocaust?"
"Son," Abraham answered,
"God himself will provide the sheep for the holocaust."
Then the two continued going forward.

When they came to the place of which God had told him,
Abraham built an altar there and arranged the wood on it.
Next he tied up his son Isaac,
and put him on top of the wood on the altar.
Then he reached out and took the knife to slaughter his son.
But the LORD's messenger called to him from heaven,
"Abraham, Abraham!"
"Here I am!" he answered.
"Do not lay your hand on the boy," said the messenger.
"Do not do the least thing to him.
I know now how devoted you are to God,
since you did not withhold from me your own beloved son."
As Abraham looked about,
he spied a ram caught by its horns in the thicket.
So he went and took the ram
and offered it up as a holocaust in place of his son.
Abraham named the site Yahweh-yireh;
hence people now say, "On the mountain the LORD will see."

Again the LORD's messenger called to Abraham from heaven and said:
"I swear by myself, declares the LORD,
that because you acted as you did
in not withholding from me your beloved son,
I will bless you abundantly
and make your descendants as countless
as the stars of the sky and the sands of the seashore;
your descendants shall take possession
of the gates of their enemies,
and in your descendants all the nations of the earth shall find blessing
all this because you obeyed my command."

or Gn 22:1-2, 9a, 10-13, 15-18

God put Abraham to the test.
He called to him, "Abraham!"
"Here I am, " he replied.
Then God said:
"Take your son Isaac, your only one, whom you love,
and go to the land of Moriah.
There you shall offer him up as a holocaust
on a height that I will point out to you."

When they came to the place of which God had told him,
Abraham built an altar there and arranged the wood on it.
Then he reached out and took the knife to slaughter his son.
But the LORD's messenger called to him from heaven,
"Abraham, Abraham!"
"Here I am, " he answered.
"Do not lay your hand on the boy, " said the messenger.
"Do not do the least thing to him.
I know now how devoted you are to God,
since you did not withhold from me your own beloved son."
As Abraham looked about,
he spied a ram caught by its horns in the thicket.
So he went and took the ram
and offered it up as a holocaust in place of his son.

Again the LORD's messenger called to Abraham from heaven and said:
"I swear by myself, declares the LORD,
that because you acted as you did
in not withholding from me your beloved son,
I will bless you abundantly
and make your descendants as countless
as the stars of the sky and the sands of the seashore;
your descendants shall take possession
of the gates of their enemies,
and in your descendants all the nations of the earth shall find blessing
all this because you obeyed my command."

Responsorial Psalm Ps 16:5, 8, 9-10, 11

R. (1) You are my inheritance, O Lord.
O LORD, my allotted portion and my cup,
you it is who hold fast my lot.
I set the LORD ever before me;
with him at my right hand I shall not be disturbed.
R. You are my inheritance, O Lord.
Therefore my heart is glad and my soul rejoices,
my body, too, abides in confidence;
because you will not abandon my soul to the netherworld,
nor will you suffer your faithful one to undergo corruption.
R. You are my inheritance, O Lord.
You will show me the path to life,
fullness of joys in your presence,
the delights at your right hand forever.
R. You are my inheritance, O Lord.

Reading 3 Ex 14:15—15:1

The LORD said to Moses, "Why are you crying out to me?
Tell the Israelites to go forward.
And you, lift up your staff and, with hand outstretched over the sea,
split the sea in two,
that the Israelites may pass through it on dry land.
But I will make the Egyptians so obstinate
that they will go in after them.
Then I will receive glory through Pharaoh and all his army,
his chariots and charioteers.
The Egyptians shall know that I am the LORD,
when I receive glory through Pharaoh
and his chariots and charioteers."

The angel of God, who had been leading Israel's camp,
now moved and went around behind them.
The column of cloud also, leaving the front,
took up its place behind them,
so that it came between the camp of the Egyptians
and that of Israel.
But the cloud now became dark, and thus the night passed
without the rival camps coming any closer together
all night long.
Then Moses stretched out his hand over the sea,
and the LORD swept the sea
with a strong east wind throughout the night
and so turned it into dry land.
When the water was thus divided,
the Israelites marched into the midst of the sea on dry land,
with the water like a wall to their right and to their left.

The Egyptians followed in pursuit;
all Pharaoh's horses and chariots and charioteers went after them
right into the midst of the sea.
In the night watch just before dawn
the LORD cast through the column of the fiery cloud
upon the Egyptian force a glance that threw it into a panic;
and he so clogged their chariot wheels
that they could hardly drive.
With that the Egyptians sounded the retreat before Israel,
because the LORD was fighting for them against the Egyptians.

Then the LORD told Moses, "Stretch out your hand over the sea,
that the water may flow back upon the Egyptians,
upon their chariots and their charioteers."
So Moses stretched out his hand over the sea,
and at dawn the sea flowed back to its normal depth.
The Egyptians were fleeing head on toward the sea,
when the LORD hurled them into its midst.
As the water flowed back,
it covered the chariots and the charioteers of Pharaoh's whole army
which had followed the Israelites into the sea.
Not a single one of them escaped.
But the Israelites had marched on dry land
through the midst of the sea,
with the water like a wall to their right and to their left.
Thus the LORD saved Israel on that day
from the power of the Egyptians.
When Israel saw the Egyptians lying dead on the seashore
and beheld the great power that the LORD
had shown against the Egyptians,
they feared the LORD and believed in him and in his servant Moses.

Then Moses and the Israelites sang this song to the LORD:
I will sing to the LORD, for he is gloriously triumphant;
horse and chariot he has cast into the sea.

Responsorial Psalm Ex 15:1-2, 3-4, 5-6, 17-18

R. (1b) Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
I will sing to the LORD, for he is gloriously triumphant;
horse and chariot he has cast into the sea.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
He is my God, I praise him;
the God of my father, I extol him.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
The LORD is a warrior,
LORD is his name!
Pharaoh's chariots and army he hurled into the sea;
the elite of his officers were submerged in the Red Sea.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
The flood waters covered them,
they sank into the depths like a stone.
Your right hand, O LORD, magnificent in power,
your right hand, O LORD, has shattered the enemy.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
You brought in the people you redeemed
and planted them on the mountain of your inheritance
the place where you made your seat, O LORD,
the sanctuary, LORD, which your hands established.
The LORD shall reign forever and ever.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.

Reading 4 Is 54:5-14

The One who has become your husband is your Maker;
his name is the LORD of hosts;
your redeemer is the Holy One of Israel,
called God of all the earth.
The LORD calls you back,
like a wife forsaken and grieved in spirit,
a wife married in youth and then cast off,
says your God.
For a brief moment I abandoned you,
but with great tenderness I will take you back.
In an outburst of wrath, for a moment
I hid my face from you;
but with enduring love I take pity on you,
says the LORD, your redeemer.
This is for me like the days of Noah,
when I swore that the waters of Noah
should never again deluge the earth;
so I have sworn not to be angry with you,
or to rebuke you.
Though the mountains leave their place
and the hills be shaken,
my love shall never leave you
nor my covenant of peace be shaken,
says the LORD, who has mercy on you.
O afflicted one, storm-battered and unconsoled,
I lay your pavements in carnelians,
and your foundations in sapphires;
I will make your battlements of rubies,
your gates of carbuncles,
and all your walls of precious stones.
All your children shall be taught by the LORD,
and great shall be the peace of your children.
In justice shall you be established,
far from the fear of oppression,
where destruction cannot come near you.

Responsorial Psalm Ps 30:2, 4, 5-6, 11-12, 13

R. (2a) I will praise you, Lord, for you have rescued me.
I will extol you, O LORD, for you drew me clear
and did not let my enemies rejoice over me.
O LORD, you brought me up from the netherworld;
you preserved me from among those going down into the pit.
R. I will praise you, Lord, for you have rescued me.
Sing praise to the LORD, you his faithful ones,
and give thanks to his holy name.
For his anger lasts but a moment;
a lifetime, his good will.
At nightfall, weeping enters in,
but with the dawn, rejoicing.
R. I will praise you, Lord, for you have rescued me.
Hear, O LORD, and have pity on me;
O LORD, be my helper.
You changed my mourning into dancing;
O LORD, my God, forever will I give you thanks.
R. I will praise you, Lord, for you have rescued me.

Reading 5 Is 55:1-11

Thus says the LORD:
All you who are thirsty,
come to the water!
You who have no money,
come, receive grain and eat;
come, without paying and without cost,
drink wine and milk!
Why spend your money for what is not bread,
your wages for what fails to satisfy?
Heed me, and you shall eat well,
you shall delight in rich fare.
Come to me heedfully,
listen, that you may have life.
I will renew with you the everlasting covenant,
the benefits assured to David.
As I made him a witness to the peoples,
a leader and commander of nations,
so shall you summon a nation you knew not,
and nations that knew you not shall run to you,
because of the LORD, your God,
the Holy One of Israel, who has glorified you.

Seek the LORD while he may be found,
call him while he is near.
Let the scoundrel forsake his way,
and the wicked man his thoughts;
let him turn to the LORD for mercy;
to our God, who is generous in forgiving.
For my thoughts are not your thoughts,
nor are your ways my ways, says the LORD.
As high as the heavens are above the earth,
so high are my ways above your ways
and my thoughts above your thoughts.

For just as from the heavens
the rain and snow come down
and do not return there
till they have watered the earth,
making it fertile and fruitful,
giving seed to the one who sows
and bread to the one who eats,
so shall my word be
that goes forth from my mouth;
my word shall not return to me void,
but shall do my will,
achieving the end for which I sent it.

Responsorial Psalm Is 12:2-3, 4, 5-6

R. (3) You will draw water joyfully from the springs of salvation.
God indeed is my savior;
I am confident and unafraid.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
With joy you will draw water
at the fountain of salvation.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Give thanks to the LORD, acclaim his name;
among the nations make known his deeds,
proclaim how exalted is his name.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Sing praise to the LORD for his glorious achievement;
let this be known throughout all the earth.
Shout with exultation, O city of Zion,
for great in your midst
is the Holy One of Israel!
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.

Reading 6 Bar 3:9-15, 32C4:4

Hear, O Israel, the commandments of life:
listen, and know prudence!
How is it, Israel,
that you are in the land of your foes,
grown old in a foreign land,
defiled with the dead,
accounted with those destined for the netherworld?
You have forsaken the fountain of wisdom!
Had you walked in the way of God,
you would have dwelt in enduring peace.
Learn where prudence is,
where strength, where understanding;
that you may know also
where are length of days, and life,
where light of the eyes, and peace.
Who has found the place of wisdom,
who has entered into her treasuries?

The One who knows all things knows her;
he has probed her by his knowledge.
The One who established the earth for all time,
and filled it with four-footed beasts;
he who dismisses the light, and it departs,
calls it, and it obeys him trembling;
before whom the stars at their posts
shine and rejoice;
when he calls them, they answer, "Here we are!"
shining with joy for their Maker.
Such is our God;
no other is to be compared to him:
He has traced out the whole way of understanding,
and has given her to Jacob, his servant,
to Israel, his beloved son.

Since then she has appeared on earth,
and moved among people.
She is the book of the precepts of God,
the law that endures forever;
all who cling to her will live,
but those will die who forsake her.
Turn, O Jacob, and receive her:
walk by her light toward splendor.
Give not your glory to another,
your privileges to an alien race.
Blessed are we, O Israel;
for what pleases God is known to us!

Responsorial Psalm Ps 19:8, 9, 10, 11

R. (John 6:68c) Lord, you have the words of everlasting life.
The law of the LORD is perfect,
refreshing the soul;
the decree of the LORD is trustworthy,
giving wisdom to the simple.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
The precepts of the LORD are right,
rejoicing the heart;
the command of the LORD is clear,
enlightening the eye.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
The fear of the LORD is pure,
enduring forever;
the ordinances of the LORD are true,
all of them just.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
They are more precious than gold,
than a heap of purest gold;
sweeter also than syrup
or honey from the comb.
R. Lord, you have the words of everlasting life.

Reading 7 Ez 36:16-17a, 18-28

The word of the LORD came to me, saying:
Son of man, when the house of Israel lived in their land,
they defiled it by their conduct and deeds.
Therefore I poured out my fury upon them
because of the blood that they poured out on the ground,
and because they defiled it with idols.
I scattered them among the nations,
dispersing them over foreign lands;
according to their conduct and deeds I judged them.
But when they came among the nations wherever they came,
they served to profane my holy name,
because it was said of them: "These are the people of the LORD,
yet they had to leave their land."
So I have relented because of my holy name
which the house of Israel profaned
among the nations where they came.
Therefore say to the house of Israel: Thus says the Lord GOD:
Not for your sakes do I act, house of Israel,
but for the sake of my holy name,
which you profaned among the nations to which you came.
I will prove the holiness of my great name, profaned among the nations,
in whose midst you have profaned it.
Thus the nations shall know that I am the LORD, says the Lord GOD,
when in their sight I prove my holiness through you.
For I will take you away from among the nations,
gather you from all the foreign lands,
and bring you back to your own land.
I will sprinkle clean water upon you
to cleanse you from all your impurities,
and from all your idols I will cleanse you.
I will give you a new heart and place a new spirit within you,
taking from your bodies your stony hearts
and giving you natural hearts.
I will put my spirit within you and make you live by my statutes,
careful to observe my decrees.
You shall live in the land I gave your fathers;
you shall be my people, and I will be your God.

Responsorial Psalm Ps 42:3, 5; 43:3, 4

When baptism is celebrated.

R. (42:2) Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
Athirst is my soul for God, the living God.
When shall I go and behold the face of God?
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
I went with the throng
and led them in procession to the house of God,
Amid loud cries of joy and thanksgiving,
with the multitude keeping festival.
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
Send forth your light and your fidelity;
they shall lead me on
And bring me to your holy mountain,
to your dwelling-place.
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
Then will I go in to the altar of God,
the God of my gladness and joy;
then will I give you thanks upon the harp,
O God, my God!
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.

Or Is 12:2-3, 4bcd, 5-6

When baptism is not celebrated.

R. (3) You will draw water joyfully from the springs of salvation.
God indeed is my savior;
I am confident and unafraid.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
With joy you will draw water
at the fountain of salvation.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Give thanks to the LORD, acclaim his name;
among the nations make known his deeds,
proclaim how exalted is his name.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Sing praise to the LORD for his glorious achievement;
let this be known throughout all the earth.
Shout with exultation, O city of Zion,
for great in your midst
is the Holy One of Israel!
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.

or Ps 51:12-13, 14-15, 18-19

R. (12a) Create a clean heart in me, O God.
A clean heart create for me, O God,
and a steadfast spirit renew within me.
Cast me not out from your presence,
and your Holy Spirit take not from me.
R. Create a clean heart in me, O God.
Give me back the joy of your salvation,
and a willing spirit sustain in me.
I will teach transgressors your ways,
and sinners shall return to you.
R. Create a clean heart in me, O God.
For you are not pleased with sacrifices;
should I offer a holocaust, you would not accept it.
My sacrifice, O God, is a contrite spirit;
a heart contrite and humbled, O God, you will not spurn.
R. Create a clean heart in me, O God.

Epistle Rom 6:3-11

Brothers and sisters:
Are you unaware that we who were baptized into Christ Jesus
were baptized into his death?
We were indeed buried with him through baptism into death,
so that, just as Christ was raised from the dead
by the glory of the Father,
we too might live in newness of life.

For if we have grown into union with him through a death like his,
we shall also be united with him in the resurrection.
We know that our old self was crucified with him,
so that our sinful body might be done away with,
that we might no longer be in slavery to sin.
For a dead person has been absolved from sin.
If, then, we have died with Christ,
we believe that we shall also live with him.
We know that Christ, raised from the dead, dies no more;
death no longer has power over him.
As to his death, he died to sin once and for all;
as to his life, he lives for God.
Consequently, you too must think of yourselves as being dead to sin
and living for God in Christ Jesus.

Responsorial Psalm Ps 118:1-2, 16-17, 22-23

R. Alleluia, alleluia, alleluia.
Give thanks to the LORD, for he is good,
for his mercy endures forever.
Let the house of Israel say,
"His mercy endures forever."
R. Alleluia, alleluia, alleluia.
The right hand of the LORD has struck with power;
the right hand of the LORD is exalted.
I shall not die, but live,
and declare the works of the LORD.
R. Alleluia, alleluia, alleluia.
The stone the builders rejected
has become the cornerstone.
By the LORD has this been done;
it is wonderful in our eyes.
R. Alleluia, alleluia, alleluia.

Gospel Mt 28:1-10

After the sabbath, as the first day of the week was dawning,
Mary Magdalene and the other Mary came to see the tomb.
And behold, there was a great earthquake;
for an angel of the Lord descended from heaven,
approached, rolled back the stone, and sat upon it.
His appearance was like lightning
and his clothing was white as snow.
The guards were shaken with fear of him
and became like dead men.
Then the angel said to the women in reply,
"Do not be afraid!
I know that you are seeking Jesus the crucified.
He is not here, for he has been raised just as he said.
Come and see the place where he lay.
Then go quickly and tell his disciples,
'He has been raised from the dead,
and he is going before you to Galilee;
there you will see him.'
Behold, I have told you."
Then they went away quickly from the tomb,
fearful yet overjoyed,
and ran to announce this to his disciples.
And behold, Jesus met them on their way and greeted them.
They approached, embraced his feet, and did him homage.
Then Jesus said to them, "Do not be afraid.
Go tell my brothers to go to Galilee,
and there they will see me."