CỐ CHẤP !

CỐ CHẤP !

CHÚA NHẬT TUẦN IV MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( 1 Sm 16:6-7,10-13). Bài đọc 2 : ( Ep 5: 8-14). Tin Mừng : ( Ga 9:1-41)

Nước Trịnh có một người đi thử giày. Anh làm một cái mẫu đo các chiều dài, ngắn của bàn chân, rồi để cái mẫu ấy bên chỗ ngồi. Lúc đi chợ, quên không cầm cái mẫu ấy đi. Đến hàng giày, mới sực nhớ ra: “ Thôi quên! Không cầm cái mẫu đo đi rồi!” Anh vội vã chạy về nhà lấy. Khi trở lại, thì chợ đã tan, không thử được giày nữa. Có người thấy thế, bảo rằng: “ Sao không đưa chân ra cho người ta đo có được không?” Anh ta cãi: “ Tôi chỉ tin có cái mẫu đo thôi, chớ tôi không tin chân tôi được.”

Thử giày cốt để đi vừa chân là được mà không tin, lại chỉ tin vào cái mẫu đo chân, chẳng là  câu nệ quá lắm ư! Ở đời, những người sống mà cứ bo bo giữ chặt lối sống cũ, không biết thế nào là hợp thời thích nghi, thì có khác gì người đi thử giày chỉ tin vào cái mẫu đo chân, mà không tin vào chân mình. ( Hàn Phi Tử)

Trên đường đi, nhìn thấy một người mù bẩm sinh, Đức Giêsu dừng lại, nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “ Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.” Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. Lẽ ra người ta phải mừng cho anh mù bẩm sinh vì được thoát khỏi cảnh mù lòa, nhưng từ đó, người ta đã nẩy sinh nhiều thái độ khác nhau.

Những người láng giếng hay những người trước kia thường thấy anh ăn xin, người thì nghi ngờ không biết có phải là anh ta hay là một ai giống anh ta, người thì quả quyết đó chính là anh ta. Dù cho anh quả quyết với họ chính là anh ta và anh đã thuật lại cho họ cách ông Giêsu đã chữa cho anh sáng mắt, nhưng họ vẫn cố chấp!

Sau khi đã biết chắc anh bị mù bẩm sinh và được ông Giêsu chữa lành, họ lại bắt đầu quay về người chữa lành cho anh. Vì Đức Giêsu chữa lành cho anh mù vào ngày sabát, nên họ lại cho rằng  ông ấy không phải là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát, như thế là một người tội lỗi thì không thể làm được dấu lạ như vậy.

Vào thời Đức Giêsu, người ta tin rằng khi một người nào đó mắc bệnh tật như mù, què, đó là do hậu quả của tội lỗi của mình gây ra hoặc do hậu quả của cha mẹ để lại. Khi thấy người mù bẩm sinh, các môn đệ của Đức Giêsu cũng đã hỏi Thầy : “ Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” và Ngài đã khẳng định:“ Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” Đức Giêsu loại bỏ quan điểm nối kết giữa đau khổ và tội lỗi. Sự mù lòa  bẩm sinh không phải là hình phạt của Thiên Chúa. Thiên Chúa không làm điều ác. Ngài chỉ yêu thương và làm điều lành. Những đau khổ của con người là dịp để cho Thiên Chúa thể hiện quyền phép và lòng thương xót của Ngài.

Diễn tiến từ mù lòa sang sáng mắt là biểu hiện một cuộc hành trình đức tin, từ không tin sang tin, từ tăm tối sang ánh sáng. Đức Giêsu đã cho biết: “ Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: Cho người không xem thấy được thấy, và cho kẻ xem thấy lại nên đui mù.” Đức Giêsu là ánh sáng thế gian. Ngài không chỉ mở mắt cho người mù về mặt thể lý, mà còn ban ánh sáng đức tin cho người bị mù về tâm hồn.

Trong khi người mù được nhìn thấy ánh sáng, thì những người Pharisiêu, vốn có đôi mắt sáng về thể lý lại trở nên mù lòa về tinh thần do ích kỷ không nhìn thấy nhu cầu của người khác, do sự cố chấp và thành kiến không can đảm nhìn nhận sự thật, do kiêu căng không thấy đước những lỗi lầm của mình, do hẹp hòi nông cạn, không thấy được giá trị đích thực của con người.Vì thành kiến đi đến cố chấp. Vì cố chấp nên thiếu độ lượng.

Thảm kịch lớn lao nhất không phải là mù bẩm sinh, nhưng do sáng mắt mà đầu óc hẹp hòi; một tâm hồn nhỏ mọn đưa chúng ta đến một cái nhìn thiếu sót, một lối sống ích kỷ.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần IV Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần IV Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT 03-26-2017

BÀI ĐỌC I: 1 Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a

"Đavit được xức dầu làm vua Israel".

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: "Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua".

Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: "Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?" Và Chúa phán cùng Samuel: "Đừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn". Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: "Chúa không chọn ai trong những người này". Samuel nói tiếp: "Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?" Isai đáp: "Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên". Samuel nói với Isai: "Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về". Isai sai người đi tìm đứa con út. Đứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: "Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó". Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Đavít từ ngày đó trở đi. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6

Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).

1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Đáp.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Đáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Đáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Ep 5, 8-14

"Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: "Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi". Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ga 8, 12b

Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".

PHÚC ÂM: Ga 9, 1-41 (bài dài)

"Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?" Chúa Giêsu đáp: "Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Đấng đã sai Ta. Đêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian". Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: "Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa" (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: "Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?" Có kẻ nói: "Đúng hắn!" Lại có người bảo: "Không phải, nhưng là một người giống hắn". Còn anh ta thì nói: "Chính tôi đây". Họ hỏi anh: "Làm thế nào mắt anh được sáng?" Anh ta nói: "Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy". Họ lại hỏi: "Ngài ở đâu?" Anh thưa: "Tôi không biết".

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: "Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt". Mấy người biệt phái nói: "Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat". Mấy kẻ khác lại rằng: "Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?" Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Đó là một tiên tri".

Nhưng người Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: "Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?" Cha mẹ y thưa rằng: "Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy". Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: "Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó".

Lúc ấy người Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi". Anh ta trả lời: "Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy". Họ hỏi anh: "Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?" Anh thưa: "Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?" Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: "Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến". Anh đáp: "Đó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì". Họ bảo anh ta: "Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?" Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: "Anh có tin Con Thiên Chúa không?" Anh thưa: "Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?" Chúa Giêsu đáp: "Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh". Anh ta liền nói: "Lạy Ngài, tôi tin", và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: "Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù". Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: "Thế ra chúng tôi mù cả ư?" Chúa Giêsu đáp: "Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói 'Chúng tôi xem thấy', nên tội các ngươi vẫn còn". Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34-38

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: "Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa" (chữ Silôe có nghĩa là được sai)". Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: "Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?" Có kẻ nói: "Đúng hắn". Lại có người bảo: "Không phải, nhưng là một người giống hắn". Còn anh ta thì nói: "Chính tôi đây".

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: "Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt". Mấy người biệt phái nói: "Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat". Mấy kẻ khác lại rằng: "Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?" Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Đó là một Tiên tri". Họ bảo anh ta: "Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?" Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: "Anh có tin Con Thiên Chúa không?" Anh thưa: "Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?" Chúa Giêsu đáp: "Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh". Anh ta liền nói: "Lạy Ngài, tôi tin", và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Đó là lời Chúa.

Fourth Sunday of Lent

SUNDAY 03-26-2017

Reading 1 1 Sm 16:1b, 6-7, 10-13a

The LORD said to Samuel:
"Fill your horn with oil, and be on your way.
I am sending you to Jesse of Bethlehem,
for I have chosen my king from among his sons."

As Jesse and his sons came to the sacrifice,
Samuel looked at Eliab and thought,
"Surely the LORD's anointed is here before him."
But the LORD said to Samuel:
"Do not judge from his appearance or from his lofty stature,
because I have rejected him.
Not as man sees does God see,
because man sees the appearance
but the LORD looks into the heart."
In the same way Jesse presented seven sons before Samuel,
but Samuel said to Jesse,
"The LORD has not chosen any one of these."
Then Samuel asked Jesse,
"Are these all the sons you have?"
Jesse replied,
"There is still the youngest, who is tending the sheep."
Samuel said to Jesse,
"Send for him;
we will not begin the sacrificial banquet until he arrives here."
Jesse sent and had the young man brought to them.
He was ruddy, a youth handsome to behold
and making a splendid appearance.
The LORD said,
"There—anoint him, for this is the one!"
Then Samuel, with the horn of oil in hand,
anointed David in the presence of his brothers;
and from that day on, the spirit of the LORD rushed upon David.

Responsorial Psalm Ps 23: 1-3a, 3b-4, 5, 6

R. (1) The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
With your rod and your staff
that give me courage.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.

Reading 2 Eph 5:8-14

Brothers and sisters:
You were once darkness,
but now you are light in the Lord.
Live as children of light,
for light produces every kind of goodness
and righteousness and truth.
Try to learn what is pleasing to the Lord.
Take no part in the fruitless works of darkness;
rather expose them, for it is shameful even to mention
the things done by them in secret;
but everything exposed by the light becomes visible,
for everything that becomes visible is light.
Therefore, it says:
"Awake, O sleeper,
and arise from the dead,
and Christ will give you light."

Verse Before the Gospel Jn 8:12

I am the light of the world, says the Lord;
whoever follows me will have the light of life.

Gospel Jn 9:1-41

As Jesus passed by he saw a man blind from birth.
His disciples asked him,
"Rabbi, who sinned, this man or his parents,
that he was born blind?"
Jesus answered,
"Neither he nor his parents sinned;
it is so that the works of God might be made visible through him.
We have to do the works of the one who sent me while it is day.
Night is coming when no one can work.
While I am in the world, I am the light of the world."
When he had said this, he spat on the ground
and made clay with the saliva,
and smeared the clay on his eyes,
and said to him,
"Go wash in the Pool of Siloam" —which means Sent—.
So he went and washed, and came back able to see.

His neighbors and those who had seen him earlier as a beggar said,
"Isn't this the one who used to sit and beg?"
Some said, "It is, "
but others said, "No, he just looks like him."
He said, "I am."
So they said to him, "How were your eyes opened?"
He replied,
"The man called Jesus made clay and anointed my eyes
and told me, 'Go to Siloam and wash.'
So I went there and washed and was able to see."
And they said to him, "Where is he?"
He said, "I don't know."

They brought the one who was once blind to the Pharisees.
Now Jesus had made clay and opened his eyes on a sabbath.
So then the Pharisees also asked him how he was able to see.
He said to them,
"He put clay on my eyes, and I washed, and now I can see."
So some of the Pharisees said,
"This man is not from God,
because he does not keep the sabbath."
But others said,
"How can a sinful man do such signs?"
And there was a division among them.
So they said to the blind man again,
"What do you have to say about him,
since he opened your eyes?"
He said, "He is a prophet."

Now the Jews did not believe
that he had been blind and gained his sight
until they summoned the parents of the one who had gained his sight.
They asked them,
"Is this your son, who you say was born blind?
How does he now see?"
His parents answered and said,
"We know that this is our son and that he was born blind.
We do not know how he sees now,
nor do we know who opened his eyes.
Ask him, he is of age;
he can speak for himself."
His parents said this because they were afraid of the Jews,
for the Jews had already agreed
that if anyone acknowledged him as the Christ,
he would be expelled from the synagogue.
For this reason his parents said,
"He is of age; question him."

So a second time they called the man who had been blind
and said to him, "Give God the praise!
We know that this man is a sinner."
He replied,
"If he is a sinner, I do not know.
One thing I do know is that I was blind and now I see."
So they said to him,
"What did he do to you?
How did he open your eyes?"
He answered them,
"I told you already and you did not listen.
Why do you want to hear it again?
Do you want to become his disciples, too?"
They ridiculed him and said,
"You are that man's disciple;
we are disciples of Moses!
We know that God spoke to Moses,
but we do not know where this one is from."
The man answered and said to them,
"This is what is so amazing,
that you do not know where he is from, yet he opened my eyes.
We know that God does not listen to sinners,
but if one is devout and does his will, he listens to him.
It is unheard of that anyone ever opened the eyes of a person born blind.
If this man were not from God,
he would not be able to do anything."
They answered and said to him,
"You were born totally in sin,
and are you trying to teach us?"
Then they threw him out.

When Jesus heard that they had thrown him out,
he found him and said, "Do you believe in the Son of Man?"
He answered and said,
"Who is he, sir, that I may believe in him?"
Jesus said to him,
"You have seen him,
the one speaking with you is he."
He said,
"I do believe, Lord," and he worshiped him.
Then Jesus said,
"I came into this world for judgment,
so that those who do not see might see,
and those who do see might become blind."

Some of the Pharisees who were with him heard this
and said to him, "Surely we are not also blind, are we?"
Jesus said to them,
"If you were blind, you would have no sin;
but now you are saying, 'We see,' so your sin remains.

or JN 9:1, 6-9, 13-17, 34-38

As Jesus passed by he saw a man blind from birth.
He spat on the ground and made clay with the saliva,
and smeared the clay on his eyes, and said to him,
"Go wash in the Pool of Siloam" — which means Sent —.
So he went and washed, and came back able to see.

His neighbors and those who had seen him earlier as a beggar said,
"Isn't this the one who used to sit and beg?"
Some said, "It is, "
but others said, "No, he just looks like him."
He said, "I am."

They brought the one who was once blind to the Pharisees.
Now Jesus had made clay and opened his eyes on a sabbath.
So then the Pharisees also asked him how he was able to see.
He said to them,
"He put clay on my eyes, and I washed, and now I can see."
So some of the Pharisees said,
"This man is not from God,
because he does not keep the sabbath."
But others said,
"How can a sinful man do such signs?"
And there was a division among them.
So they said to the blind man again,
"What do you have to say about him,
since he opened your eyes?"
He said, "He is a prophet."

They answered and said to him,
"You were born totally in sin,
and are you trying to teach us?"
Then they threw him out.

When Jesus heard that they had thrown him out,
he found him and said, "Do you believe in the Son of Man?"
He answered and said,
"Who is he, sir, that I may believe in him?"
Jesus said to him,
"You have seen him, and
the one speaking with you is he."
He said,
"I do believe, Lord," and he worshiped him.

KHÁT

KHÁT

CHÚA NHẬT TUẦN III MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( Xh 17: 3-7). Bài đọc 2 : ( Rm 5:1-2,5-8). Tin Mừng : ( Ga 4:5-42)

Nơi con người, có sự sống thân xác và sự sống tâm linh. Nước là nhu cầu không thể thiếu đối với thân xác thì nước cũng rất cần cho đời sống tâm linh. Cả hai đều chết vì khát. Sự sống tâm linh sẽ chết khi khát đức tin, khát ân huệ của Thiên Chúa. Cái khát ấy sẽ đưa con người đến sự hủy diệt muôn đời.

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng nước Giacóp đã đánh dấu một cuộc biến đổi. Đức Giêsu là người trước tiên xóa bỏ ranh giới ngăn cách giữa người  Do Thái và người Samari. Từ nước ở giếng Giacóp, Ngài đã đưa người phụ nữ đến cơn khát tinh thần: “ Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin và người ấy ban cho chị nước hằng sống.” Nước hằng sống là mạch nước mà ai uống, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước ấy sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời. Đức tin là nguồn nước hằng sống. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đã viết: “ Một khi đã được nên công chính  nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.” Đó là nguồn nước hằng sống.

Khi đã cho người phụ nữ Samari biết mình là ai, Đức Giêsu  hướng tâm hồn chị  đến việc phải thờ phương Chúa Cha trong thần khí và sự thật, chứ không phải khép kín trên núi hay tại Giêrusalem. Người phụ nữ Samari đã trở về với cõi lòng mình để biến đổi cuộc đời.

Cha Doyle, một Linh mục dòng Tên, người Ailen, nổi tiếng thánh thiện và hay giúp đỡ người khác. Một buổi tối, sau khi giảng một bài về sự truyền giáo, ngài đi ra đường và gặp một thiếu nữ. Ngài dịu dàng nói với cô: “ Con ạ, trời đã khuya. Con chưa về nhà sao? Đừng làm Chúa đau khổ. Ngài yêu con.”

Năm tháng trôi qua. Vào một đêm nọ, có điện thoại của bề trên sai ngài đi Dublin ngay lập tức để gặp một người nữ tù sắp bị hành hình vào sáng mai, vì người phụ nữ ấy yêu cầu được gặp ngài. Người nữ tù ấy là cô Fanny Cranbush, đã bị kết án cộng tác với kẻ khác để đầu độc nhiều người. Vừa thấy linh mục, cô quỳ gối và nói: “Thưa cha, cảm ơn Chúa vì cha đã đên đây.” Linh mục ngạc nhiên hỏi: “ Nhưng con ạ, cha chưa biết con. Con cần gì?” Cô ta đáp lại: “ Cha không nhớ con sao? Hai năm trước đây, cha đã gặp con trên đường phố Yarmouth vào một đêm tối. Cha đã nói với con: “ Con ạ, trời đã khuya. Con chưa về nhà sao? Đừng làm Chúa đau khổ. Ngài yêu con.” Chúa là ai? Con chưa biết. Con chưa bao giờ cầu nguyện và chưa được rửa tội. Nhiều tuần lễ, con muốn tránh xa con đường tội lỗi; nhưng vì cái đói, mỗi ngày con càng lún sâu trong tội lỗi đến độ giờ đây con sắp bị treo cổ. Con đã tuyệt vọng. Nhớ lại lời cha đã nói, con khóc và muốn được gặp cha để nghe cha nói về Chúa Giêsu.

Cha dạy giáo lý cho cô với thời gian cho phép, trước khi rửa tội cho cô. Cha lập một bàn thờ trong nhà giam, dâng Thánh Lễ và cho cô rước  lễ lần đầu cũng là lần cuối. Trên đường đi xử, cô thì thầm: “ Thưa cha, con thật hạnh phúc. Chúa Giêsu biết con ăn năn hối lỗi vì đã xúc phạm đến Ngài. Con tin Chúa Giêsu hằng yêu mến con. Amen.”

Thiên Chúa là Tình yêu. Ngài luôn yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta đang ở trong tình trạng tội lỗi. Khi dân Do Thái xuất hành qua sa mạc, bất chấp sự vô ôn ơn hay lời oán trách của họ, Thiên Chúa đã không từ bỏ dân của Ngài; nhưng qua Môsê, Ngài đã cung cấp nước cho họ. Thánh Phaolô cũng đã khẳng định trong thư gữi tín hữu Rôma: “ Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng nước Giacóp đã chứng minh chân lý ấy.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần III Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần III Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT 03-19-2017

BÀI ĐỌC I: Xh 17, 3-7

"Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống".

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: "Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy". Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: "Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi". Chúa liền phán bảo Môsê: "Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống". Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là "Thử Thách", vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: "Chúa có ở với chúng tôi hay không?" Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Các ngươi đừng cứng lòng!" (c. 8)

1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người! – Đáp.

2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta,và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. – Đáp.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta". – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 5, 1-2. 5-8

"Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ga 4, 42 và 15

Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.

PHÚC ÂM: Ga 4, 5-42 (bài dài)

"Mạch nước vọt đến sự sống đời đời". 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: "Xin bà cho tôi uống nước" (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?" (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: "Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: 'Xin cho tôi uống nước', thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?"

Chúa Giêsu trả lời: "Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời". Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa". Chúa Giêsu bảo: "Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây". Người đàn bà đáp: "Tôi không có chồng". Chúa Giêsu nói tiếp: "Bà nói 'tôi không có chồng' là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem".

Chúa Giêsu đáp: "Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Đấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý".

Người đàn bà thưa: "Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Chúa Giêsu bảo: "Đấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây".

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: "Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?" Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: "Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Đấng Kitô?" Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: "Xin mời Thầy ăn". Nhưng Ngài đáp: "Thầy có của ăn mà các con không biết". Môn đệ hỏi nhau: "Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?" Chúa Giêsu nói: "Của Thầy ăn là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Đúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ".

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: "Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm". Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: "Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế". Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: "Xin bà cho tôi uống nước" (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?" (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).

Chúa Giêsu đáp: "Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: 'Xin cho tôi uống nước', thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?"

Chúa Giêsu trả lời: "Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời". Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa".

Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: "Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem". Chúa Giêsu đáp: "Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Đấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý".

Người đàn bà thưa: "Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Chúa Giêsu bảo: "Đấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây".

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: "Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế". Đó là lời Chúa.

Third Sunday of Lent

SUNDAY 03-19-2017

Reading 1 Ex 17:3-7

In those days, in their thirst for water,
the people grumbled against Moses,
saying, "Why did you ever make us leave Egypt?
Was it just to have us die here of thirst
with our children and our livestock?"
So Moses cried out to the LORD,
"What shall I do with this people?
a little more and they will stone me!"
The LORD answered Moses,
"Go over there in front of the people,
along with some of the elders of Israel,
holding in your hand, as you go,
the staff with which you struck the river.
I will be standing there in front of you on the rock in Horeb.
Strike the rock, and the water will flow from it
for the people to drink."
This Moses did, in the presence of the elders of Israel.
The place was called Massah and Meribah,
because the Israelites quarreled there
and tested the LORD, saying,
"Is the LORD in our midst or not?"

Responsorial Psalm Ps 95:1-2, 6-7, 8-9

R. (8) If today you hear his voice, harden not your hearts.
Come, let us sing joyfully to the LORD;
let us acclaim the Rock of our salvation.
Let us come into his presence with thanksgiving;
let us joyfully sing psalms to him.
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.
Come, let us bow down in worship;
let us kneel before the LORD who made us.
For he is our God,
and we are the people he shepherds, the flock he guides.
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.
Oh, that today you would hear his voice:
"Harden not your hearts as at Meribah,
as in the day of Massah in the desert,
Where your fathers tempted me;
they tested me though they had seen my works."
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.

Reading 2 Rom 5:1-2, 5-8

Brothers and sisters:
Since we have been justified by faith,
we have peace with God through our Lord Jesus Christ,
through whom we have gained access by faith
to this grace in which we stand,
and we boast in hope of the glory of God.

And hope does not disappoint,
because the love of God has been poured out into our hearts
through the Holy Spirit who has been given to us.
For Christ, while we were still helpless,
died at the appointed time for the ungodly.
Indeed, only with difficulty does one die for a just person,
though perhaps for a good person one might even find courage to die.
But God proves his love for us
in that while we were still sinners Christ died for us.

Verse Before the Gospel Cf. Jn 4:42, 15

Lord, you are truly the Savior of the world;
give me living water, that I may never thirst again.

Gospel Jn 4:5-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar,
near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob's well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
"Give me a drink."
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him,
"How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?"
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
"If you knew the gift of God
and who is saying to you, 'Give me a drink, '
you would have asked him
and he would have given you living water."
The woman said to him,
"Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep;
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob,
who gave us this cistern and drank from it himself
with his children and his flocks?"
Jesus answered and said to her,
"Everyone who drinks this water will be thirsty again;
but whoever drinks the water I shall give will never thirst;
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life."
The woman said to him,
"Sir, give me this water, so that I may not be thirsty
or have to keep coming here to draw water."

Jesus said to her,
"Go call your husband and come back."
The woman answered and said to him,
"I do not have a husband."
Jesus answered her,
"You are right in saying, 'I do not have a husband.'
For you have had five husbands,
and the one you have now is not your husband.
What you have said is true."
The woman said to him,
"Sir, I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain;
but you people say that the place to worship is in Jerusalem."
Jesus said to her,
"Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand;
we worship what we understand,
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here,
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth;
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him
must worship in Spirit and truth."
The woman said to him,
"I know that the Messiah is coming, the one called the Christ;
when he comes, he will tell us everything."
Jesus said to her,
"I am he, the one speaking with you."

At that moment his disciples returned,
and were amazed that he was talking with a woman,
but still no one said, "What are you looking for?"
or "Why are you talking with her?"
The woman left her water jar
and went into the town and said to the people,
"Come see a man who told me everything I have done.
Could he possibly be the Christ?"
They went out of the town and came to him.
Meanwhile, the disciples urged him, "Rabbi, eat."
But he said to them,
"I have food to eat of which you do not know."
So the disciples said to one another,
"Could someone have brought him something to eat?"
Jesus said to them,
"My food is to do the will of the one who sent me
and to finish his work.
Do you not say, 'In four months the harvest will be here'?
I tell you, look up and see the fields ripe for the harvest.
The reaper is already receiving payment
and gathering crops for eternal life,
so that the sower and reaper can rejoice together.
For here the saying is verified that 'One sows and another reaps.'
I sent you to reap what you have not worked for;
others have done the work,
and you are sharing the fruits of their work."

Many of the Samaritans of that town began to believe in him
because of the word of the woman who testified,
"He told me everything I have done."
When the Samaritans came to him,
they invited him to stay with them;
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word,
and they said to the woman,
"We no longer believe because of your word;
for we have heard for ourselves,
and we know that this is truly the savior of the world."

or JN 4:5-15, 19b-26, 39a, 40-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar,
near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob's well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
"Give me a drink."
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him,
"How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?"
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
"If you knew the gift of God
and who is saying to you, 'Give me a drink, '
you would have asked him
and he would have given you living water."
The woman said to him,
"Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep;
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob,
who gave us this cistern and drank from it himself
with his children and his flocks?"
Jesus answered and said to her,
"Everyone who drinks this water will be thirsty again;
but whoever drinks the water I shall give will never thirst;
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life."
The woman said to him,
"Sir, give me this water, so that I may not be thirsty
or have to keep coming here to draw water.

"I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain;
but you people say that the place to worship is in Jerusalem."
Jesus said to her,
"Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand;
we worship what we understand,
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here,
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth;
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him
must worship in Spirit and truth."
The woman said to him,
"I know that the Messiah is coming, the one called the Christ;
when he comes, he will tell us everything."
Jesus said to her,
"I am he, the one who is speaking with you."

Many of the Samaritans of that town began to believe in him.
When the Samaritans came to him,
they invited him to stay with them;
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word,
and they said to the woman,
"We no longer believe because of your word;
for we have heard for ourselves,
and we know that this is truly the savior of the world."

 

HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( St 12:1-4). Bài đọc 2 : ( 2Tm 1:8-10). Tin Mừng : ( Mt 17: 1-9)

Mới được gọi theo Thầy Giêsu trong một thời gian ngắn, lại nghe Thầy cho biết: Ngài phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thư ba sẽ sống lại. Làm sao các môn đệ có thể vững dạ để bỏ mình vác thập giá mình mà đi theo Thầy được!

Hiểu được tâm trạng hoang mang vì lòng tin còn non yếu của các môn đệ, sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình lên núi. Ở đó, chuyện gì đã xảy ra? Đức Giêsu đã biến hình.

Trước hết, Ngài biến đổi hình dạng trước mặc các ông. Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng. Đó là vinh quang của Đức Kitô; và từ trong đám mây, có tiếng Chúa Cha phán: “ Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” Các môn đệ biết chính xác Đức Giêsu là Đấng nào, nhưng Ngài đã xuống thế mang thân phận con người  để phải chịu một cuộc thương khó nhằm giải cứu nhân loại.  Biến cố biến hình trên núi Tabo chỉ là một thoáng cho các môn đệ thấy vinh quang của Thầy mình sau con đường khổ nhục Ngài sẽ phải trải qua.

Cuộc đàm đạo giữa Môisen, Êlia với Đức Giêsu cho thấy một thế giới siêu hình sau cái chết, thấy sự sống bất tử của con người, thấy quá khứ liên kết với hiện tại, thấy vinh quang cho những ai thành tín đặt tin tưởng vào Thiên Chúa.

Choáng ngợp trước cảnh vinh quang của Thầy mình, các môn đệ đã muốn dựng lều để hưởng thụ, nhưng Đức Giêsu lại đưa họ xuống núi với Ngài để hoàn tất nhiệm vụ Chúa Cha giao phó.

Như Đức Giêsu đã phó thác hoàn toàn vào thánh ý Chúa Cha, nên Chúa Cha đã yêu thương Ngài và tôn vinh Ngài sau khi phục sinh từ cái chết, thì chúng ta là những Kitô hữu cũng sẽ được đi vào lòng thương xót, nhân hậu của Ba Ngôi Thiên Chúa nếu chúng ta đặt hết tin tưởng và phó thác vào tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa.

Một nhóm các nhà thực vật học đang tham hiểm tại một điểm rất hiểm trở để tìm những loài hoa lạ. Một ngày kia, qua ống nhòm, họ phát hiện ra một loài hoa rất hiếm và rất đẹp. Cây hoa kia mọc ở dưới một khe núi rất sâu dưới hai bờ vách núi thằng đứng. Muốn lấy được cây hoa, cần phải có một người được thả xuống khe vực ấy bằng một sợi dây, một công việc rất nguy hiểm.

Nhìn thấy một thiếu niên địa phương đến gần, các nhà thực vật  hỏi thử: “ Chúng tôi sẽ cho em 20 đô, nếu em đồng ý để chúng tôi thả em xuống vực sâu kia để lấy cây hoa xinh đẹp kia.” Đứa trẻ đến gần bờ vực, nhìn xuống và trả lời: “Chờ cháu một chút. Cháu sẽ trở lại ngay.”

Khi trở lại, thiếu niên ấy dẫn theo một người đứng tuổi. Thiếu niên nói với các nhà thực vật học: “ Cháu đồng ý xuống vực sâu kia để lấy cây hoa cho các ông, với một điều kiện là các ông phải để người này giữ sơi dây. Ông ấy là cha cháu.”

Chúa Cha hằng yêu thương con cái của Ngài. Chỉ ở nơi Ngài chúng ta mới vũng tin trên con đường hành trình đức tin. Thánh Phaolô trong thư 2 gửi Timôthê cũng đã viết: Thiên Chúa “ đã cứu độ và kêu gợi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Giêsu Ki tô, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.” ( 2 Tm 1: 9-10)

Cuộc sống ở trần gian này là một bước chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Muốn đạt đến được sự sống vĩnh cửu ấy, chúng ta phải sống, thực hành những điều kiện Đức Giêsu đòi hỏi: “ Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Con đường đau khổ dẫn đến vinh quang!

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần II Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần II Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT 03-12-2017

BÀI ĐỌC I: St 12, 1-4a

"Abraham, người cha Dân Chúa, được kêu gọi".

Trích sách Sáng Thế.

Khi ấy, Chúa phán cùng Abram rằng: "Ngươi hãy từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa cha ngươi mà đi đến xứ Ta chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, Ta sẽ ban phúc cho ngươi, cùng làm vinh danh ngươi, ngươi sẽ được diễm phúc. Ta sẽ ban phúc cho ai chúc phúc ngươi, và chúc dữ cho ai chúc dữ ngươi. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ nhờ ngươi mà được diễm phúc". Abram liền ra đi, như lời Thiên Chúa phán dạy. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 4-5. 18-19. 20 và 22

Đáp: Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài (c. 22).

1) Lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.

2) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Ngài, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. – Đáp.

3) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa: chính Ngài là Đấng phù trợ và che chở chúng tôi. Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 2 Tm 1, 8b-10

"Thiên Chúa kêu gọi và chiếu soi chúng ta".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Timô-thêu.

Con thân mến, con hãy đồng lao cộng tác với Cha vì Tin Mừng, nhờ quyền lực của Thiên Chúa, Đấng giải thoát và kêu mời chúng ta bằng ơn thiên triệu thánh của Người, không phải do công việc chúng ta làm, mà là do sự dự định và ân sủng đã ban cho chúng ta từ trước muôn đời trong Đức Giêsu Kitô, nhưng bây giờ mới tỏ bày bằng sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, Người đã dùng Tin Mừng tiêu diệt sự chết và chiếu soi sự sống, và sự không hư nát được tỏ rạng. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Mt 17, 5

Từ trong đám mây sáng chói, có tiếng Chúa Cha phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người".

PHÚC ÂM: Mt 17, 1-9

"Mặt Người chiếu sáng như mặt trời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người". Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: "Các con hãy đứng dậy, đừng sợ". Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: "Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại". Đó là lời Chúa.

Second Sunday of Lent

SUNDAY 03-12-2017

Reading 1 Gn 12:1-4a

The LORD said to Abram:
"Go forth from the land of your kinsfolk
and from your father's house to a land that I will show you.

"I will make of you a great nation,
and I will bless you;
I will make your name great,
so that you will be a blessing.
I will bless those who bless you
and curse those who curse you.
All the communities of the earth
shall find blessing in you."

Abram went as the LORD directed him.

Responsorial Psalm Ps 33:4-5, 18-19, 20, 22.

R. (22) Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
Upright is the word of the LORD,
and all his works are trustworthy.
He loves justice and right;
of the kindness of the LORD the earth is full.
R. Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
See, the eyes of the LORD are upon those who fear him,
upon those who hope for his kindness,
To deliver them from death
and preserve them in spite of famine.
R. Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.
Our soul waits for the LORD,
who is our help and our shield.
May your kindness, O LORD, be upon us
who have put our hope in you.
R. Lord, let your mercy be on us, as we place our trust in you.

Reading 2 2 Tm 1:8b-10

Beloved:
Bear your share of hardship for the gospel
with the strength that comes from God.

He saved us and called us to a holy life,
not according to our works
but according to his own design
and the grace bestowed on us in Christ Jesus before time began,
but now made manifest
through the appearance of our savior Christ Jesus,
who destroyed death and brought life and immortality
to light through the gospel.

Verse Before the Gospel Cf. Mt 17:5

From the shining cloud the Father's voice is heard:
This is my beloved Son, hear him.

Gospel Mt 17:1-9

Jesus took Peter, James, and John his brother,
and led them up a high mountain by themselves.
And he was transfigured before them;
his face shone like the sun
and his clothes became white as light.
And behold, Moses and Elijah appeared to them,
conversing with him.
Then Peter said to Jesus in reply,
"Lord, it is good that we are here.
If you wish, I will make three tents here,
one for you, one for Moses, and one for Elijah."
While he was still speaking, behold,
a bright cloud cast a shadow over them,
then from the cloud came a voice that said,
"This is my beloved Son, with whom I am well pleased;
listen to him."
When the disciples heard this, they fell prostrate
and were very much afraid.
But Jesus came and touched them, saying,
"Rise, and do not be afraid."
And when the disciples raised their eyes,
they saw no one else but Jesus alone.

As they were coming down from the mountain,
Jesus charged them,
"Do not tell the vision to anyone
until the Son of Man has been raised from the dead."

CHIẾN THẮNG HAY SA NGÃ

CHIẾN THẮNG HAY SA NGÃ

CHÚA NHẬT TUẦN I MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( St 2:7-9, 3:1-7). Bài đọc 2 : ( Rm 5: 12-19). Tin Mừng : ( Mt 4: 1-11)

Mùa Chay là một khởi đầu mới để người Kitô hữu sám hối, hoán cải và trở về với Thiên Chúa.  Việc đầu tiên chúng ta phải làm khi bước vào Mùa Chay là nhận ra mình là người bất toàn, tội lỗi và hay sa ngã.

Người ta định nghĩa cám dỗ là khơi dậy lòng ham muốn đến mức làm cho sa ngã hay cám dỗ là tìm mọi cách quyến rũ làm việc gì không hay. Như thế cám dỗ luôn quyến rũ con người hướng đến việc làm không tốt. Không nghe ai nói tôi bị cám dỗ làm điều thiện, điều lành, mà chỉ nghe người ta nói tôi bị cám dỗ làm điều xấu, điều ác. Khi không chống lại được cám dỗ, chúng ta bị sa ngã, nhưng chống lại được cám dỗ là chúng ta chiến thắng.

Trong bài đọc 1,  Ađam và Evà bị cám dỗ và bị sa ngã trong vườn Địa Đàng; và trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu cũng bị cám dỗ sau 40 đêm ngày chay tịnh trong hoang địa, nhưng Ngài đã chiến thắng cám dỗ. Cám dỗ biến chúng ta thành nô lệ của tội lỗi khi chúng ta ưng thuận và thỏa hiệp với điều xấu. Tội lỗi, điều xấu, điều ác không phải do Thiên Chúa, nhưng bởi Satan.

Thiên Chúa để cho con người tự do lựa chọn, nhưng ma qủy lại tìm cách quyến rủ con người đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa; vì thế, chỉ có ma qủy mới cám dỗ con người, còn Thiên Chúa là Đấng tốt lành, Ngài chỉ để cho con người tự do lựa chọn.  Trái cấm là mức hạn chế của tự do lựa chọn. Không có trái cấm con người chưa có tự do, nhưng khi đặt trái cấm trong vườn Đia Đàng là Chúa đặt ra một ranh giới để con người lựa chọn. Lựa chọn theo ý Thiên Chúa hay lựa chọn theo ý riêng mình.

Cuộc sống của mỗi người như đứng giữa ngã ba đường. Đó là ngã ba tự do lựa chọn hoặc theo thánh ý Thiên Chúa hay thuận theo ý muốn của xác thịt. Chỉ vì muốn con người chống lại ý định của Thiên Chúa nên ma qủy mới cám dỗ con người chống lại thánh ý Thiên Chúa. Thánh Phao lô trong thư gửi tín hữu Rôma đã viết rằng: “ Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.”( Rm 7:18-20) Và ngài kết luận: “ Như vậy, nếu theo lý trí, thì tôi làm nô lệ của luật Thiên Chúa, nhưng theo xác thịt, thì tôi làm nô lệ luật của tội.”

Trong thời kỳ xảy ra cuộc chiến tranh Mexicô, Henry Thoreau, nhà văn kiêm triết gia, đã cực lực phản đối cuộc chiến, vì ông thấy rằng đó là một mưu đồ bành trướng những vùng lãnh thổ của chế độ nô lệ. Ông cương quyết không chịu đóng thuế, vì ông cho rằng số tiền ông đóng sẽ được sử dụng vào một cuộc chiến phi nghĩa. Sau cùng, ông chịu chấp nhận đi tù còn hơn là chấp nhận đóng thuế.

Waldo Emerson, cũng là một văn sĩ kiêm triết gia. Ông là bạn thân của Thoreau và cũng là người kịch liệt chống đối chiến tranh và chế độ nô lệ. Ông đến nhà tù thăm bạn. Emerson hỏi Thoreau: “ Này Henry! Sao ông phải ở tù thế này?” Thoreau nhìn thẳng vào mắt của Emerson và hỏi lại; “ Waldo, còn tại sao bạn không ở trong này?”

Cả hai đều thấy việc đóng thuế là góp tay với những người làm điều bất chính, nhưng một người thì cực lực chống đối và chấp nhận ở tù; người kia lại không can đảm đứng lên phản đối.

Tất cả chúng ta là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, và từ đó hướng chúng ta đến một lòng ao ước thay đổi cuộc sống để trở nên xứng đáng là con cái Thiên Chúa và quan tâm đến tha nhân để đón nhận ơn Phục Sinh nhờ cái chết của Đức Giêsu Kitô mang lại. Bước vào Mùa Chay, Giáo Hội muốn chúng ta trở về với nội tâm của mình để sám hối, cầu nguyện và bố thí. Ba việc làm ấy hướng chúng ta vể ba đối tượng Thiên Chúa , tha nhân và chính bản thân mình.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản Nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần I Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần I Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT  03-05-2017

BÀI ĐỌC I: St 2, 7-9; 3, 1-7

"Nguyên tổ được tạo thành, và phạm tội".

Trích sách Sáng Thế.

Thiên Chúa lấy bùn đất nắn thành con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở thành một vật sống.

Thiên Chúa lập một vườn tại Eđen về phía đông và đặt vào đó con người mà Ngài đã dựng nên. Thiên Chúa cho từ đất mọc lên mọi thứ cây trông đẹp, ăn ngon, với cây sự sống ở giữa vườn, và cây biết thiện ác.

Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi dã thú mà Thiên Chúa tạo thành. Nó nói với người nữ rằng: "Có phải Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn mọi thứ cây trong vườn?" Người nữ nói với con rắn: "Chúng tôi được ăn trái cây trong vườn; nhưng trái cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa bảo: 'Các ngươi đừng ăn, đừng động tới nó, nếu không sẽ phải chết'". Rắn bảo người nữ: "Không, các ngươi không chết đâu! Nhưng Thiên Chúa biết rằng ngày nào các ngươi ăn trái ấy, mắt các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ biết thiện ác như thần thánh". Người nữ thấy trái cây đẹp mắt, ngon lành và thèm ăn để nên thông minh. Bà hái trái cây ăn, rồi lại cho chồng, người chồng cũng ăn. Mắt họ liền mở ra và họ nhận biết mình trần truồng, nên kết lá vả che thân. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 50, 3-4. 5-6a. 12-13. 14 và 17

Đáp: Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa (x. c. 3a).

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. – Đáp.

2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn. Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa. – Đáp.

3) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. – Đáp.

4) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Lạy Chúa, xin mở môi con, để miệng con sẽ loan truyền lời ca khen. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 5, 12-19

"Chỗ mà tội lỗi đã đầy tràn, thì ân sủng đã đầy dàn dụa".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội. Trước khi có lề luật, đã có tội ở trần gian. Nhưng nếu không có luật, thì tội không bị kể là tội. Thế mà, từ thời Ađam đến thời Môsê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như Ađam đã phạm. Ađam là hình ảnh Đấng sẽ tới.

Nhưng sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đã gây ra. Quả thế, vì một người duy nhất phạm tội, con người đã bị xét xử để phải mang án, còn sau nhiều lần sa ngã, thì lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính.

Vì nếu bởi tội của một người mà sự chết đã thống trị do một người đó, thì những người lãnh được ân sủng và ơn huệ dồi dào bởi đức công chính, càng được thống trị hơn nữa trong sự sống do một người là Đức Giêsu Kitô.

Do đó, tội của một người truyền đến mọi người đưa tới án phạt như thế nào, thì đức công chính của một người truyền sang mọi người đưa tới bậc công chính ban sự sống cũng như thế. Vì như bởi tội không vâng lời của một người mà muôn người trở thành những tội nhân thế nào, thì do đức vâng lời của một người mà muôn người trở thành kẻ công chính cũng như thế. Đó là lời Chúa.

Hoặc bài vắn này: Rm 5, 12. 17-19

Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi có sự chết, và thế là sự chết đã truyền đến mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội.

Vì nếu bởi tội của một người mà sự chết đã thống trị do một người đó, thì những người lãnh được ân sủng và ơn huệ dồi dào bởi đức công chính, càng được thống trị hơn nữa trong sự sống do một người là Đức Giêsu Kitô.

Do đó, tội của một người truyền đến mọi người đưa tới án phạt như thế nào, thì đức công chính của một người truyền sang mọi người đưa tới bậc công chính ban sự sống cũng như thế. Vì như bởi tội không vâng lời của một người mà muôn người trở thành những tội nhân thế nào, thì do đức vâng lời của một người mà muôn người trở thành kẻ công chính cũng như thế. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Mt 4, 4b

Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

PHÚC ÂM: Mt 4, 1-11

"Chúa Giêsu nhịn ăn bốn mươi ngày đêm, và chịu cám dỗ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ. Khi Người đã nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người cảm thấy đói. Và tên cám dỗ đến gần, nói với Người rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh". Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: 'Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra'".

Bấy giờ ma quỷ đưa Người lên Thành thánh, và đặt Người trên góc tường Đền thờ, rồi nói với Người rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng: Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần đến với ông, và chư vị đó sẽ nâng đỡ ông trên tay, để ông khỏi vấp chân vào đá". Chúa Giêsu đáp: "Cũng có lời chép rằng: 'Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi'".

Quỷ lại đưa Người lên núi rất cao, và chỉ cho Người xem thấy mọi nước thế gian và vinh quang của những nước đó, rồi nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình xuống thờ lạy tôi". Bấy giờ Chúa Giêsu bảo nó rằng: "Hãy lui đi, hỡi Satan! Vì có lời đã chép: 'Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài'". Bấy giờ ma quỷ bỏ Người. Và các thiên thần tiến lại, hầu hạ Người. Đó là lời Chúa.

 

First Sunday of Lent
SUNDAY 03-05-2017

Reading 1 Gn 2:7-9; 3:1-7

The LORD God formed man out of the clay of the ground
and blew into his nostrils the breath of life,
and so man became a living being.

Then the LORD God planted a garden in Eden, in the east,
and placed there the man whom he had formed.
Out of the ground the LORD God made various trees grow
that were delightful to look at and good for food,
with the tree of life in the middle of the garden
and the tree of the knowledge of good and evil.

Now the serpent was the most cunning of all the animals
that the LORD God had made.
The serpent asked the woman,
"Did God really tell you not to eat
from any of the trees in the garden?"
The woman answered the serpent:
"We may eat of the fruit of the trees in the garden;
it is only about the fruit of the tree
in the middle of the garden that God said,
'You shall not eat it or even touch it, lest you die.'"
But the serpent said to the woman:
"You certainly will not die!
No, God knows well that the moment you eat of it
your eyes will be opened and you will be like gods
who know what is good and what is evil."
The woman saw that the tree was good for food,
pleasing to the eyes, and desirable for gaining wisdom.
So she took some of its fruit and ate it;
and she also gave some to her husband, who was with her,
and he ate it.
Then the eyes of both of them were opened,
and they realized that they were naked;
so they sewed fig leaves together
and made loincloths for themselves.

Responsorial Psalm Ps 51:3-4, 5-6, 12-13, 17

R. (cf. 3a) Be merciful, O Lord, for we have sinned.
Have mercy on me, O God, in your goodness;
in the greatness of your compassion wipe out my offense.
Thoroughly wash me from my guilt
and of my sin cleanse me.
R. Be merciful, O Lord, for we have sinned.
For I acknowledge my offense,
and my sin is before me always:
"Against you only have I sinned,
and done what is evil in your sight."
R. Be merciful, O Lord, for we have sinned.
A clean heart create for me, O God,
and a steadfast spirit renew within me.
Cast me not out from your presence,
and your Holy Spirit take not from me.
R. Be merciful, O Lord, for we have sinned.
Give me back the joy of your salvation,
and a willing spirit sustain in me.
O Lord, open my lips,
and my mouth shall proclaim your praise.
R. Be merciful, O Lord, for we have sinned.

Reading 2 Rom 5:12-19

Brothers and sisters:
Through one man sin entered the world,
and through sin, death,
and thus death came to all men, inasmuch as all sinned—
for up to the time of the law, sin was in the world,
though sin is not accounted when there is no law.
But death reigned from Adam to Moses,
even over those who did not sin
after the pattern of the trespass of Adam,
who is the type of the one who was to come.
But the gift is not like the transgression.
For if by the transgression of the one, the many died,
how much more did the grace of God
and the gracious gift of the one man Jesus Christ
overflow for the many.
And the gift is not like the result of the one who sinned.
For after one sin there was the judgment that brought condemnation;
but the gift, after many transgressions, brought acquittal.
For if, by the transgression of the one,
death came to reign through that one,
how much more will those who receive the abundance of grace
and of the gift of justification
come to reign in life through the one Jesus Christ.
In conclusion, just as through one transgression
condemnation came upon all,
so, through one righteous act,
acquittal and life came to all.
For just as through the disobedience of the one man
the many were made sinners,
so, through the obedience of the one,
the many will be made righteous.

Or Rom 5:12, 17-19

Brothers and sisters:
Through one man sin entered the world,
and through sin, death,
and thus death came to all men, inasmuch as all sinned.

For if, by the transgression of the one,
death came to reign through that one,
how much more will those who receive the abundance of grace
and of the gift of justification
come to reign in life through the one Jesus Christ.
In conclusion, just as through one transgression
condemnation came upon all,
so, through one righteous act,
acquittal and life came to all.
For just as through the disobedience of the one man
the many were made sinners,
so, through the obedience of the one,
the many will be made righteous.

Verse Before the Gospel Mt 4:4b

One does not live on bread alone,
but on every word that comes forth from the mouth of God.

Gospel Mt 4:1-11

At that time Jesus was led by the Spirit into the desert
to be tempted by the devil.
He fasted for forty days and forty nights,
and afterwards he was hungry.
The tempter approached and said to him,
"If you are the Son of God,
command that these stones become loaves of bread."
He said in reply,
"It is written:
One does not live on bread alone,
but on every word that comes forth

 

ĐỪNG VÀ HÃY

ĐỪNG VÀ HÃY

CHÚA NHẬT TUẦN VIII MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM A

Bài đọc 1 : (Is 49:14-15). Bài đọc 2 : ( 1 Cr 4:1-5). Tin Mừng: ( Mt 6: 24-34)

Bước vào cuộc sống, không ai không phải lo cho cái ăn, cái mặc, lo cho con cái, người thân, lo ốm đau bệnh tật. Có đủ ăn đủ mặc lại lo tích trữ cho ngày mai. Thế mà hôm nay Đức Giêsu lại dạy: “ Đừng lo lắng cho mạng sống : lấy gì mà ăn; cũng đừng lo lắng cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?” Và Ngài còn thêm : “ Đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.”

 Khi nói :“ Ngày nào có cái khổ của ngày ấy”, Chúa không dạy chúng ta sống vô lo. Ngài cũng không khuyến khích chúng ta ăn không ngồi rồi, nhưng phải làm việc; vì ai không làm việc thì không đáng ăn. Ngài dạy chúng ta phải biết lo những gì đáng lo. Mạng sống quan trọng hơn của ăn. Thân thể quan trọng hơn áo mặc. Chúng ta lo cho những thứ hư nát , chóng qua mà lại không lo cho cái vĩnh cửu, quan tâm đến những cái thứ yếu mà lại quên đi những cái chính yếu. Điều mà Chúa cảnh giác chúng ta là đừng lo lắng quan tâm đến các giá trị vật chất mà quên đi giá trị tinh thần. Đứng trước những lo toan của cuộc sống vật chất cuốn hút, chúng ta trở thành  nô lệ cho vật chất. Điều mà Đức Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là chúng ta là những con cái Thiên Chúa, và chúng ta chỉ có thể tìm sự an tâm thực sự khi chúng ta đặt tin tưởng và phó thác tương lai của mình trong bàn tay của Thiên Chúa. “Ngày mai để ngày mai lo” là sống trong sự tin tưởng phó thác vào sự quan phòng của Cha chúng là Đấng yêu thương trong  giây phút hiện tại . Đó là điểm khác biệt giữa con cái Thiên Chúa và dân ngoại.

Nhưng “ trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” Vậy anh em đừng lo lắng vì ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo.”  Chỉ khi nào chúng ta hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào quyền năng và sự quan phòng yêu thương thì chúng ta mới có thể để “ ngày mai cứ để ngày mai lo.” Có những lúc gặp khốn khó, Xion đã oán trách Thiên Chúa: “ Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi!” ; nhưng qua miệng tiên tri Isaia, Đức Chúa đã khẳng định: “ Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên người bao giờ.” ( Is 49: 14-15)  Đức Giêsu còn khẳng định chim trời, cỏ cây ngoài đồng mà Cha trên trời còn quan tâm thì làm sao Ngài lại có thể bỏ rơi con cái của Ngài được!  

Một ngày nọ, một nhóm người ngồi lại để kể cho nhau nghe những ký  ức vui buồn. Sau một hồi trao đổi, họ đã đưa ra một số vấn đề để thách đố nhau.

Một thanh niên đứng lên đọc: “ Chúa là Mục Tử tôi, tôi không còn thiếu gì.” Thanh niên này là một người có kiến thức, nói năng rất bài bản. Anh ta đọc làu làu Thánh Vịnh ấy  giữa những tràng pháo tay hoan hô của mọi người.

Người thứ hai lên tiếng là một cụ già, lưng đã gù, giọng nói yếu ớt rất khó nghe. Ông khom người đứng trong  góc nhà và đọc: “ Thiên Chúa là Mục Tử tôi, tôi không còn thiếu gì.” Khi ông cụ vừa dứt lời, cả phòng bỗng im lặng. Mọi người đều cúi đầu lặng lẽ cầu nguyện.

Người thanh  niên học thức bấy giờ mới lên tiếng giải thích về hai cách nhận thức Thánh Vịnh. Anh ta nói: “Quả thật, tôi nhận thực mình cũng hiểu biết Thánh Vịnh ấy; tuy nhiên, chính ông cụ mới là người hiểu biết vị Mục Tử.”

Chàng thanh niên nhận thức về Thánh Vịnh rất sâu sắc, nhưng anh lại chưa trải nghiệm được sự quan phòng của Thiên Chúa như ông cụ già kia. Chính nhờ sự tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà ông đã nghiệm được Thiên Chúa không để ông thiếu thốn gì. Có một sự khác biệt rất lớn giữa biết về Thiên Chúa và sống với Thiên Chúa. Đức tin là tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ có những ý tưởng, kiến thức về Ngài.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản Nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần VIII Mùa Thường Niên Năm A

Chúa Nhật Tuần VIII Mùa Thường Niên Năm A

CHÚA NHẬT 02-26-2017

Bài Ðọc I: Is 49, 14-15

"Ta sẽ không quên ngươi đâu".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Sion nói: "Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi". Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu. Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 61, 2-3. 6-7. 8-9ab.

Ðáp: Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui (c. 2a).

1) Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui;
do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng.

2) Duy nơi Thiên Chúa linh hồn tôi hãy nghỉ an,
vì do chính mình Người, tôi được ơn cứu độ. Phải, chính Chúa là Ðá Tảng, là ơn cứu độ của tôi, Người là chiến lũy của tôi, tôi sẽ không hề nao núng.

3) Vinh dự và an toàn của tôi ở nơi Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa, tôi có Ðá Tảng kiên cố và chỗ dung thân. Hỡi dân tộc, hãy trông cậy Người luôn mọi lúc, hãy đổ dốc niềm tâm sự trước nhan Người.   

Bài Ðọc II: 1 Cr 4, 1-5

"Chúa sẽ phơi bày những ý định của tâm hồn".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, như vậy người ta coi chúng tôi như những thừa tác viên của Ðức Kitô, và những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Do đó, người ta đòi hỏi nơi những người phân phát các mầu nhiệm là mỗi người phải trung tín. Phần tôi, tôi không lấy làm quan trọng khi bị anh em hay toà án nhân loại đoán xét; nhưng tôi cũng không đoán xét chính mình tôi. Vì chưng, mặc dầu lương tâm không trách cứ tôi điều gì, nhưng không phải vì thế mà tôi đã được công chính hoá. Ðấng đoán xét tôi chính là Chúa. Vì thế, anh em đừng đoán xét trước thời gian cho đến khi Chúa đến, Người sẽ đưa ra ánh sáng những điều giấu kín trong bóng tối và phơi bày những ý định của tâm hồn; và bấy giờ Thiên Chúa sẽ ban khen tương xứng cho mỗi người. Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 6, 24-34

"Các con chớ áy náy về ngày mai".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mátthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được. Vì thế Thầy bảo các con: Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao?

Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin.

Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc? Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó, Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai. Vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy". Ðó là lời Chúa.

 

Eighth Sunday in Ordinary Time

SUNDAY 02-26-2017

Reading 1 Is 49:14-15

Zion said, "The LORD has forsaken me;
my LORD has forgotten me."
Can a mother forget her infant,
be without tenderness for the child of her womb?
Even should she forget,
I will never forget you.

Responsorial Psalm Ps 62:2-3, 6-7, 8-9

R. (6a) Rest in God alone, my soul.
Only in God is my soul at rest;
from him comes my salvation.
He only is my rock and my salvation,
my stronghold; I shall not be disturbed at all.
R. Rest in God alone, my soul.
Only in God be at rest, my soul,
for from him comes my hope.
He only is my rock and my salvation,
my stronghold; I shall not be disturbed.
R. Rest in God alone, my soul.
With God is my safety and my glory,
he is the rock of my strength; my refuge is in God.
Trust in him at all times, O my people!
Pour out your hearts before him.
R. Rest in God alone, my soul.

Reading 2 1 Cor 4:1-5

Brothers and sisters:
Thus should one regard us: as servants of Christ
and stewards of the mysteries of God.
Now it is of course required of stewards
that they be found trustworthy.
It does not concern me in the least
that I be judged by you or any human tribunal;
I do not even pass judgment on myself;
I am not conscious of anything against me,
but I do not thereby stand acquitted;
the one who judges me is the Lord.
Therefore do not make any judgment before the appointed time,
until the Lord comes,
for he will bring to light what is hidden in darkness
and will manifest the motives of our hearts,
and then everyone will receive praise from God.

Alleluia Hb 4:12

R. Alleluia, alleluia.
The word of God is living and effective;
discerning reflections and thoughts of the heart.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Mt 6:24-34

Jesus said to his disciples:
"No one can serve two masters.
He will either hate one and love the other,
or be devoted to one and despise the other.
You cannot serve God and mammon.

"Therefore I tell you, do not worry about your life,
what you will eat or drink,
or about your body, what you will wear.
Is not life more than food and the body more than clothing?
Look at the birds in the sky;
they do not sow or reap, they gather nothing into barns,
yet your heavenly Father feeds them.
Are not you more important than they?
Can any of you by worrying add a single moment to your life-span?
Why are you anxious about clothes?
Learn from the way the wild flowers grow.
They do not work or spin.
But I tell you that not even Solomon in all his splendor
was clothed like one of them.
If God so clothes the grass of the field,
which grows today and is thrown into the oven tomorrow,
will he not much more provide for you, O you of little faith?
So do not worry and say, 'What are we to eat?'
or 'What are we to drink?'or 'What are we to wear?'
All these things the pagans seek.
Your heavenly Father knows that you need them all.
But seek first the kingdom of God and his righteousness,
and all these things will be given you besides.
Do not worry about tomorrow; tomorrow will take care of itself.
Sufficient for a day is its own evil."

KHÔNG AI LÀ KẺ THÙ CỦA TÔI

KHÔNG AI LÀ KẺ THÙ CỦA TÔI

CHÚA NHẬT TUẦN VII MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM A

Bài đọc 1 : ( Lv 19:1-2,17-18). Bài đọc 2 : ( 1 Cr 3:16-23). Tin Mừng : ( Mt 5:38-48)

Một linh mục 92 tuổi được mọi người trong thị xã tôn kính. Khi ông xuất hiện trên đường phố, ai cũng kính cẩn cúi chào; vì ai cũng biết tiếng thánh thiện của ông. Ông cũng là thành viên của câu lạc bộ dưỡng sinh. Mỗi lần câu lạc bộ có cuộc họp, ông luôn có mặt đúng giờ, và luôn ngồi sát trong góc phòng.

Một hôm, vị linh mục này biến mất. Người ta cố tìm khắp nơi, nhưng chẳng có tin tức gì. Một tháng sau, khi câu lạc bộ nhóm họp, ông lại xuất hiện như thường lệ. Mọi người xôn xao hỏi: “ Cả tháng nay cha đi đâu vậy?” Vị linh mục điềm nhiên trả lời: “ Đi ở tù.” Mọi người lại thắc mắc: “ Ở tù? Lạy Chúa tôi! Cha hiền như bụt thế kia, sao lại có chuyện đó? Chuyện gì xảy ra vậy?” Vị linh mục trả lời: “ Đây là một câu chuyện dài; nhưng có thể tóm tắt lại như thế này: Tôi mua một vé tàu lửa đi thành phố. Khi tôi đang đợi tàu ở sân ga, thì một cô gái xinh đẹp xuất hiện với một anh cảnh sát. Cô gái nhìn chăm chăm vào tôi , rồi quay sang nói với người cảnh sát: “ Chính lão này!” Tôi xin thú thật với mọi người: vì muốn làm vừa lòng cô gái xinh đẹp kia mà tôi đã nhận tội.”

Cũng một con người ấy, nhưng khi họ thuận theo ý chúng ta, yêu mến chúng ta, thì đó là bạn, nhưng khi họ chống đối hay làm hại chúng ta, thì họ là kẻ thù. Kẻ thù của chúng ta không phải là những người thù ghét chúng ta mà là những người chúng ta thù ghét. Yêu nên tốt, ghét nên xấu. Đó là lẽ thường tình của con người. Khi người anh em trở thành kẻ thù, thì việc đầu tiên là đòi lại sự công bằng: Mắt  phải đền mắt, răng phải đền răng.

Thiên Chúa là Tình Yêu. Trong tình yêu của Thiên Chúa không có sự giận ghét, trả thù, nhưng chỉ có yêu thương và tha thứ. Thiên Chúa yêu thương mọi con cái của Ngài. Vì thế, Ngài đòi hỏi chúng ta đi xa hơn, tích cực hơn: đừng chống cự người ác, hy sinh chịu thua thiệt để cho người ta vả luôn má kia, hay  ai kiện đòi áo trong thì cho luôn áo ngoài, bắt đi một dặm thì hãy đi với người ấy hai dặm, ai xin thì cho, ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi.” Ngài dạy chúng ta : chớ trả thù. và “ hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em.” Chúa không dạy chúng ta phải thụ động trước sự bất công và sự ngược đãi, nhưng Ngài bác bỏ sự trả thù dưới mọi hình thức. Ngài dạy chúng ta không được giữ sự thù hận trong lòng mình về bất cứ điều gì, ngay cả  với kẻ thù của mình.

Chịu thua thiệt không phải là thái độ thụ động trước sự bất công, ngược đãi. Chấp nhận và chịu thua thiệt là một hình thức tích cực của tình yêu. Yêu kẻ yêu mình, ghét kẻ ghét mình thì đó là sòng phẳng. Cách đối xử như thế không biểu lộ bản chất của con Thiên Chúa như Đức Giêsu đã nói: “ Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu  thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu?”

Nếu Thiên Chúa cũng song phẳng với con người như con người sóng phẳng với nhau thì làm sao con người có thể trốn chạy được sự trừng phạt của Thiên Chúa!  Thiên Chúa ban mọi ơn lành không phải chỉ riêng một số người nào, nhưng là cho hết mọi người. Thiên Chúa cho mặt trời mọc lên để soi sáng cho người tốt cũng như người xấu, cho mưa xuống trên người công chính cũng như ngưới bất chính.

Thiên Chúa là tình yêu; nên Ngài đòi hỏi chúng ta cách thức yêu tha nhân ngược với bản tính của con người. Muốn trở nên con cái của Cha trên trời thì chúng ta cũng phải mang lấy bản chất tình yêu của Ngài là yêu thương và tha thứ, và đừng biến tha nhân thành kẻ thù.  Thiên Chúa là Đấng thánh và Ngài đòi hỏi chúng ta cũng phải nên giống Ngài. Chỉ khi chúng ta yêu thương kẻ thù bằng những thái độ, hành động tích cực như Đức Giêsu dạy, chúng ta mới trở hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện trong tình yêu.  

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần VII Mùa Thường Niên Năm A

Chúa Nhật Tuần VII Mùa Thường Niên Năm A

CHÚA NHẬT 02-19-2017

BÀI ĐỌC I: Lv 19, 1-2. 17-18

"Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình".

Trích sách Lêvi.

Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy nói cho toàn thể cộng đồng con cái Israel: Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh, là Thiên Chúa các ngươi. Đừng giữ lòng thù ghét anh em, nhưng hãy răn bảo họ công khai, để khỏi mang tội vì họ. Đừng tìm báo oán, đừng nhớ lại lời mắng nhiếc của kẻ đồng hương. Hãy yêu thương các bạn hữu như chính mình. Ta là Chúa". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 102, 1-2. 3-4. 8 và 10. 12-13.

Đáp: Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót (c. 8a).

1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người. – Đáp.

2) Người đã tha thứ cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân, Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng. – Đáp.

3) Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi. – Đáp.

4) Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi. Cũng như người cha yêu thương con cái, Chúa yêu thương những ai kính sợ Người. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 3, 16-23

"Tất cả là của anh em, nhưng anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Nếu ai xúc phạm tới đền thờ của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt người ấy. Vì đền thờ của Thiên Chúa là thánh, mà chính anh em là đền thờ ấy.

Đừng có ai lừa dối mình. Nếu có ai trong anh em cho mình là người khôn ngoan ở đời này, thì kẻ ấy hãy nên điên dại để được khôn ngoan: vì sự khôn ngoan của thế gian này là sự điên dại đối với Thiên Chúa, vì có lời chép rằng: "Chính Người bắt chợt những người khôn ngoan ngay trong xảo kế của họ". Lại có lời khác rằng: "Chúa biết tư tưởng của những người khôn ngoan là hão huyền". Vậy đừng có ai còn tự phô trương nơi loài người. Vì tất cả là của anh em, dù là Phaolô, hay Apollô, hoặc Kêpha, hoặc thế gian, sự sống hay sự chết, hoặc hiện tại hay tương lai. Tất cả là của anh em, nhưng anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 5, 38-48

"Các con hãy yêu thương thù địch các con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con đã nghe bảo: 'Mắt đền mắt, răng đền răng'. Còn Thầy, Thầy bảo các con: đừng chống cự lại với kẻ hung ác; trái lại, nếu ai vả má bên phải của con, thì hãy đưa má bên kia cho nó nữa. Và ai muốn kiện con để đoạt áo trong của con, thì hãy trao cho nó cả áo choàng nữa. Và ai bắt con đi một dặm, thì con hãy đi với nó hai dặm. Ai xin, thì con hãy cho. Ai muốn vay mượn, thì con đừng khước từ.

"Các con cũng đã nghe dạy rằng: 'Hãy yêu thương tha nhân, và ghét thù địch'. Còn Thầy, Thầy bảo các con: Các con hãy yêu thương thù địch các con, hãy làm lành cho những kẻ ghét các con, và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ và vu khống các con, để các con nên con cái Cha các con ở trên trời, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những kẻ yêu thương các con, thì còn có công gì? Nào những người thu thuế không làm như vậy ư? Và nếu các con chỉ chào hỏi anh em các con mà thôi, thì các con có làm gì hơn? Nào dân ngoại không làm như vậy sao? Vậy các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành". Đó là lời Chúa.

Seventh Sunday in Ordinary Time

SUNDAY 02-19-2017

Reading 1 Lv 19:1-2, 17-18

The LORD said to Moses,
"Speak to the whole Israelite community and tell them:
Be holy, for I, the LORD, your God, am holy.

"You shall not bear hatred for your brother or sister in your heart.
Though you may have to reprove your fellow citizen,
do not incur sin because of him.
Take no revenge and cherish no grudge against any of your people.
You shall love your neighbor as yourself.
I am the LORD."

Responsorial Psalm Ps 103:1-2, 3-4, 8, 10, 12-13

R. (8a) The Lord is kind and merciful.
Bless the LORD, O my soul;
and all my being, bless his holy name.
Bless the LORD, O my soul,
and forget not all his benefits.
R. The Lord is kind and merciful.
He pardons all your iniquities,
heals all your ills.
He redeems your life from destruction,
crowns you with kindness and compassion.
R. The Lord is kind and merciful.
Merciful and gracious is the LORD,
slow to anger and abounding in kindness.
Not according to our sins does he deal with us,
nor does he requite us according to our crimes.
R. The Lord is kind and merciful.
As far as the east is from the west,
so far has he put our transgressions from us.
As a father has compassion on his children,
so the LORD has compassion on those who fear him.
R. The Lord is kind and merciful.

Reading 2 1 Cor 3:16-23

Brothers and sisters:
Do you not know that you are the temple of God,
and that the Spirit of God dwells in you?
If anyone destroys God's temple, God will destroy that person;
for the temple of God, which you are, is holy.

Let no one deceive himself.
If any one among you considers himself wise in this age,
let him become a fool, so as to become wise.
For the wisdom of this world is foolishness in the eyes of God,
for it is written:
God catches the wise in their own ruses,
and again:
The Lord knows the thoughts of the wise,
that they are vain.

So let no one boast about human beings, for everything belongs to you,
Paul or Apollos or Cephas,
or the world or life or death,
or the present or the future:
all belong to you, and you to Christ, and Christ to God.

Alleluia 1 Jn 2:5

R. Alleluia, alleluia.
Whoever keeps the word of Christ,
the love of God is truly perfected in him.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Mt 5:38-48

Jesus said to his disciples:
"You have heard that it was said,
An eye for an eye and a tooth for a tooth.
But I say to you, offer no resistance to one who is evil.
When someone strikes you on your right cheek,
turn the other one as well.
If anyone wants to go to law with you over your tunic,
hand over your cloak as well.
Should anyone press you into service for one mile,
go for two miles.
Give to the one who asks of you,
and do not turn your back on one who wants to borrow.

"You have heard that it was said,
You shall love your neighbor and hate your enemy.
But I say to you, love your enemies
and pray for those who persecute you,
that you may be children of your heavenly Father,
for he makes his sun rise on the bad and the good,
and causes rain to fall on the just and the unjust.
For if you love those who love you, what recompense will you have?
Do not the tax collectors do the same?
And if you greet your brothers only,
what is unusual about that?
Do not the pagans do the same?
So be perfect, just as your heavenly Father is perfect."

 

 

KIỆN TOÀN LỀ LUẬT

KIỆN TOÀN LỀ LUẬT

CHÚA NHẬT TUẦN VI MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM A

Bài đọc 1 : ( Hc 15:15-20). Bài đọc 2 : ( 1 Cr 2: 6-10). Mt : ( 5:17-37)

Bắt đầu cuộc sống công khai, Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các Hội Đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân. Danh tiếng Ngài đồn ra khắp xứ Xyria. Có lẽ qua đó, dân chúng cũng muốn Ngài thay đổi hay bãi bỏ những luật lệ đang đè nặng lên vai họ chăng! Nhưng Ngài đã cho họ biết: “ Trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng không thể bỏ qua đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” Và Ngài còn cảnh báo thêm: “ Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân giữ và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.” và Ngài còn khẳng định:“ Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.” Đức Giêsu xuống trần gian không  phải để hủy bỏ, sửa đổi hay thêm vào Lề Luật, nhưng để kiện toàn.

Đức Giêsu không chê trách lề luật cũ, nhưng phê phán cách giải thích và áp dụng lề luật của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Đối với họ, vấn đề quan trọng là phải giữ lề luật nghiêm nhặt một cách hình thức. Người ta đánh giá con người tốt hay xấu tùy theo sự tuân giữ luật nhiều hay ít. Họ chỉ nhìn hành động bên ngoài để phán quyết người có lỗi lầm; nhưng đối với Thiên Chúa, Ngài lại không nhìn vào vẻ bên ngoài, nhưng nhìn vào tâm hồn, nhìn vào tư tưởng và ước muốn của chúng ta, dù cho ước muốn ấy chưa dẫn đến hành động. Đối với cái nhìn đổi mới của Đức Kitô,  điều quan trọng không phải là chúng ta giữ được bao nhiêu điều răn, nhưng là chúng ta tuân giữ trong tinh thần nào. Ngài đến không phải để hủy bỏ hay sửa đổi luật cũ, nhưng đưa luật cũ lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn trong quan hệ giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau. Đó là luật yêu thương: yêu Chúa hết lòng và yêu anh em như chính mình.

Đang đi đường, khách bộ hành nọ gặp một người đàn ông cưỡi gựa phóng vù qua. Đôi mắt có vẻ không lương thiện. Hai bàn tay dính đầy máu. Ít phút sau, cả chục người phóng ngựa tới. Họ hỏi người bộ hành: “ Anh có thấy một người với đôi bàn tay dính đầy máu vừa mới phóng ngựa qua đây không?” Khách bộ hành hỏi: “ Người đó là ai vậy?”  Người dẫn đầu trong đám họ nói: “ Một kẻ xấu.” Khách bộ hành lại hỏi: “ Các anh đuổi theo để đưa người ấy ra công lý phải không?“ Họ trả lời: “ Không. Chúng tôi đuổi theo để chỉ đướng cho anh ta.”

Không phải công lý có khả năng cảm hóa được người ác, nhưng là tình thương. Chúa không yêu cầu chúng ta giải quyết những ai sai phạm lề luật bằng cách tiêu cực là mắt đền mắt, răng đền răng, nhưng bằng một hành động tích cực bằng yêu thương và tha thứ: Đừng chống cự người ác, ngược lại ai vả má này thì đưa luôn má kia, ai lấy áo trong thì đưa luôn áo ngoài, ai bắt đi một dặm thì đi với người ấy hai dặm. Khi làm như thế, chúng ta mới được trở nên con cái Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời cho mặt trời soi sáng cho cả kẻ xấu và người tốt, kẻ công chính cũng như kẻ bất chính.

Không phải những ai giết người mới bị đưa ra tòa mà ngay cả những ai giận anh em mình, chửi anh em mình là đồ ngốc cũng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng: đó là sự sỉ nhục người anh em; và ai chửi anh em mình là là quân phản đạo lại bị lửa hỏa ngục thiêu đốt, vì họ đã tách lìa người anh em khỏi gia đình Thiên Chúa; vì thế, khi có bất hòa với nhau và trước khi dâng của lễ, trước khi gặp Cha của mình, hãy di làm hòa với anh em.

Điều mà Đức Giêsu muốn kiện toàn luật cũ là đặt mối tương giao yêu thương giữa con người và Thiên Chúa và giữa con người với con người bất kể họ là ai trong tâm tình con cái cùng một Cha. Chính hành động này đưa chúng ta trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần VI Mùa Thường Niên Năm A

Chúa Nhật Tuần VI Mùa Thường Niên Năm A

CHÚA NHẬT 02-12-2017

BÀI ĐỌC I: Hc 15, 16-21 (Hl 15-20)

"Người không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác".

Trích sách Huấn Ca.

Nếu ngươi muốn tuân giữ các giới răn: việc trung thành giữ các giới răn là tuỳ ở ngươi. Người đặt trước mặt ngươi nước và lửa, ngươi muốn cái gì, thì giơ tay ra trên đó. Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ, họ thích thứ nào, thì được thứ ấy. Bởi chưng, Thiên Chúa đầy khôn ngoan, hùng dũng và toàn năng, Người luôn luôn nhìn thấy mọi loài. Chúa nhìn đến những kẻ kính sợ Người, và thấu suốt mọi hành động của con người. Người không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác, và không cho phép một ai phạm tội. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 118, 1-2. 4-5. 17-18. 33-34.

Đáp: Phước đức những ai tiến thân trong pháp luật của Chúa (c. 1b).

1) Phước đức những ai (theo) đường lối tinh tuyền, họ tiến thân trong pháp luật của Chúa. Phước đức những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm kiếm tìm Ngài. – Đáp.

2) Phần Chúa, Ngài ban bố huấn lệnh, cốt để người ta tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường nẻo con vững chắc, để tuân giữ các thánh chỉ của Ngài. – Đáp.

3) Xin gia ân cho tôi tớ Ngài được sống, để tuân giữ những lời Ngài răn. Xin mở rộng tầm con mắt của con, để quan chiêm những điều kỳ diệu trong luật Chúa. – Đáp.

4) Lạy Chúa, xin dạy bảo con đường lối thánh chỉ Ngài, để con tuân giữ cho bằng triệt để. Xin dạy con, để con tuân theo luật pháp Ngài, và để con hết lòng tuân giữ luật đó. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 2, 6-10

"Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở, để làm nên sự hiển vinh của chúng ta".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, chúng tôi có bàn giải sự khôn ngoan với những người toàn thiện, mà đó không phải là sự khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của những bậc vua chúa thế trần, hạng người đã bị dồn vào chỗ hư vong. Nhưng chúng tôi thuyết sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa vẫn được giấu kín, mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở để làm nên sự hiển vinh của chúng tôi. Sự khôn ngoan đó, không một ai trong các vua chúa thế trần đã biết tới: vì giá thử nhận biết, hẳn họ đã không đóng đinh Chúa sự hiển vinh. Nhưng chúng tôi rao giảng như lời đã chép: "Sự mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và lòng người cũng chưa từng mơ ước tới, đó là tất cả những điều Thiên Chúa đã làm cho những ai yêu mến Người". Bởi chưng Thiên Chúa đã mạc khải điều đó cho chúng tôi do Thánh Thần của Người. Thật vậy, Thánh Thần thấu suốt mọi sự, cả những điều thâm sâu của Thiên Chúa. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 1, 14 và 12b

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 5, 17-37 (bài dài)

"Người xưa đã bảo như thế, còn Ta, Ta bảo các con thế này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con đừng tưởng Ta đến để huỷ bỏ lề luật hay các tiên tri; Ta không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn. Vì Ta bảo thật các con: Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm, một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành. Bởi vậy, ai huỷ bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất và dạy người khác làm như vậy, sẽ kể là người nhỏ nhất trong Nước Trời; trái lại, ai giữ và dạy người ta giữ những điều đó, sẽ được kể là người cao cả trong Nước Trời. †Ta bảo thât các con,‡ nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu.

"Các con đã nghe dạy người xưa rằng: 'Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án'. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là 'ngốc', thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là 'khùng', thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật các ngươi biết: Ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng.

"Các con đã nghe nói với người xưa rằng: 'Chớ ngoại tình'. Còn Ta, Ta bảo các con: Hễ ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ, thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi. Nếu con mắt phải của con nên dịp tội cho con, thì hãy móc nó mà ném xa con; vì thà mất một chi thể còn lợi hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Và nếu tay phải con nên dịp tội cho con, thì hãy chặt mà ném nó xa con; vì thà mất một chi thể còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục.

"Cũng có lời dạy rằng: 'Ai ly dị vợ mình, thì hãy trao cho vợ tờ ly dị'. Còn Ta, Ta bảo các con: Hễ ai ly dị vợ mình, trừ trường hợp tà dâm, thì làm cớ cho vợ ngoại tình; và ai cưới người vợ đã ly dị, cũng phạm tội ngoại tình.

"Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng: 'Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa'. Còn Ta, Ta bảo các con: Đừng thề chi cả; đừng lấy trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa; đừng lấy đất mà thề, vì đất là bệ chân Người; đừng lấy Giêrusalem mà thề, vì là thành của Vua cao cả. cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì ngươi không thể làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra". Đó là lời Chúa.

Hoặc bài vắn này: Mt 5, 20-22a. 27-28. 33-34a. 37

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ta bảo thật các con: Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu.

"Các con đã nghe dạy người xưa rằng: 'Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án'. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là 'ngốc', thì bị phạt trước công nghị.

"Các con đã nghe nói với người xưa rằng: 'Chớ ngoại tình'. Còn Ta, Ta bảo các con: Hễ ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ, thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi.

"Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng: 'Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa'. Còn Ta, Ta bảo các con: Đừng thề chi cả. Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra". Đó là lời Chúa.

Sixth Sunday in Ordinary Time

SUNDAY 02-12-2017

Reading 1 Sir 15:15-20

If you choose you can keep the commandments, they will save you;
if you trust in God, you too shall live;
he has set before you fire and water
to whichever you choose, stretch forth your hand.
Before man are life and death, good and evil,
whichever he chooses shall be given him.
Immense is the wisdom of the Lord;
he is mighty in power, and all-seeing.
The eyes of God are on those who fear him;
he understands man's every deed.
No one does he command to act unjustly,
to none does he give license to sin.

Responsorial Psalm Ps 119:1-2, 4-5, 17-18, 33-34

R. (1b) Blessed are they who follow the law of the Lord!
Blessed are they whose way is blameless,
who walk in the law of the LORD.
Blessed are they who observe his decrees,
who seek him with all their heart.
R. Blessed are they who follow the law of the Lord!
You have commanded that your precepts
be diligently kept.
Oh, that I might be firm in the ways
of keeping your statutes!
R. Blessed are they who follow the law of the Lord!
Be good to your servant, that I may live
and keep your words.
Open my eyes, that I may consider
the wonders of your law.
R. Blessed are they who follow the law of the Lord!
Instruct me, O LORD, in the way of your statutes,
that I may exactly observe them.
Give me discernment, that I may observe your law
and keep it with all my heart.
R. Blessed are they who follow the law of the Lord!

Reading 2 1 Cor 2:6-10

Brothers and sisters:
We speak a wisdom to those who are mature,
not a wisdom of this age,
nor of the rulers of this age who are passing away.
Rather, we speak God's wisdom, mysterious, hidden,
which God predetermined before the ages for our glory,
and which none of the rulers of this age knew;
for, if they had known it,
they would not have crucified the Lord of glory.
But as it is written:
What eye has not seen, and ear has not heard,
and what has not entered the human heart,
what God has prepared for those who love him,

this God has revealed to us through the Spirit.

For the Spirit scrutinizes everything, even the depths of God.

Alleluia cF. mt 11:25

R. Alleluia, alleluia.
Blessed are you, Father, Lord of heaven and earth;
you have revealed to little ones the mysteries of the kingdom.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Mt 5:17-37

Jesus said to his disciples:
"Do not think that I have come to abolish the law or the prophets.
I have come not to abolish but to fulfill.
Amen, I say to you, until heaven and earth pass away,
not the smallest letter or the smallest part of a letter
will pass from the law,
until all things have taken place.
Therefore, whoever breaks one of the least of these commandments
and teaches others to do so
will be called least in the kingdom of heaven.
But whoever obeys and teaches these commandments
will be called greatest in the kingdom of heaven.
I tell you, unless your righteousness surpasses
that of the scribes and Pharisees,
you will not enter the kingdom of heaven.

"You have heard that it was said to your ancestors,
You shall not kill; and whoever kills will be liable to judgment.
But I say to you,
whoever is angry with his brother
will be liable to judgment;
and whoever says to his brother, 'Raqa,'
will be answerable to the Sanhedrin;
and whoever says, 'You fool,'
will be liable to fiery Gehenna.
Therefore, if you bring your gift to the altar,
and there recall that your brother
has anything against you,
leave your gift there at the altar,
go first and be reconciled with your brother,
and then come and offer your gift.
Settle with your opponent quickly while on the way to court.
Otherwise your opponent will hand you over to the judge,
and the judge will hand you over to the guard,
and you will be thrown into prison.
Amen, I say to you,
you will not be released until you have paid the last penny.

"You have heard that it was said,
You shall not commit adultery.
But I say to you,
everyone who looks at a woman with lust
has already committed adultery with her in his heart.
If your right eye causes you to sin,
tear it out and throw it away.
It is better for you to lose one of your members
than to have your whole body thrown into Gehenna.
And if your right hand causes you to sin,
cut it off and throw it away.
It is better for you to lose one of your members
than to have your whole body go into Gehenna.

"It was also said,
Whoever divorces his wife must give her a bill of divorce.
But I say to you,
whoever divorces his wife –  unless the marriage is unlawful –
causes her to commit adultery,
and whoever marries a divorced woman commits adultery.

"Again you have heard that it was said to your ancestors,
Do not take a false oath,
but make good to the Lord all that you vow.

But I say to you, do not swear at all;
not by heaven, for it is God's throne;
nor by the earth, for it is his footstool;
nor by Jerusalem, for it is the city of the great King.
Do not swear by your head,
for you cannot make a single hair white or black.
Let your 'Yes' mean 'Yes,' and your 'No' mean 'No.'
Anything more is from the evil one."

or MT 5:20-22a, 27-28, 33-34a, 37

Jesus said to his disciples:
"I tell you, unless your righteousness surpasses
that of the scribes and Pharisees,
you will not enter the kingdom of heaven.

"You have heard that it was said to your ancestors,
You shall not kill; and whoever kills will be liable to judgment.
But I say to you,
whoever is angry with brother
will be liable to judgment.

"You have heard that it was said,
You shall not commit adultery.
But I say to you,
everyone who looks at a woman with lust
has already committed adultery with her in his heart.

"Again you have heard that it was said to your ancestors,
Do not take a false oath,
but make good to the Lord all that you vow.

But I say to you, do not swear at all.
Let your 'Yes' mean 'Yes,'and your 'No' mean 'No.'
Anything more is from the evil one."

 

 

KITÔ HỮU, NGƯƠI LÀ AI?

KITÔ HỮU, NGƯƠI LÀ AI?

CHÚA NHẬT TUẦN V MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM A

Bài đọc 1 : (Is 58:7-10). Bài đọc 2 : ( 1Cr 2:1-5). Tin Mừng : ( Mt 5:13-16)

Sau khi công bố Tám Mối Phúc Thật, Đức Giêsu đòi hỏi các môn và những người đi theo Ngài: “ Chính anh em là muối cho đời. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” Hai hình ảnh muối và ánh sáng cũng là một, và cả đều nói lên vài trò của các môn đệ và của các Kitô hữu hôm nay là truyền bá lý tưởng chân lý mà Ngài đã truyền dạy. Khi nói: “ Chính anh em là muối cho đời. Chính anh em la ánh sáng cho thế gian”, Đức Giêsu không muốn nói lên một niềm mong ước phải làm; nhưng Ngài khẳng định với các môn đệ và những người đi theo Ngài phải trở nên muối cho đời và ánh sáng cho thế gian. Nhưng muối và ánh sáng phải như thế nào để ướp cho đời, để chiếu sáng cho trần gian?

Muối thì phải còn vị mặn; muối mà nhạt đi thì lấy gì làm cho nó mặn lại; nó đã trở thành vô dụng. Ánh sáng thì phải đặt trên cao để có thể chiếu sáng cho cả nhà; đèn thắp sáng mà đặt dưới đáy thùng thì chẳng chiếu sáng được bóng tối chung quanh; vì thế, muối phải còn vị mặn, ánh sáng phải tỏa sáng để xóa tan bóng tối, phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để cho họ thấy những công việc tốt đẹp của các môn đệ và của chúng ta làm để tôn vinh Chúa Cha, Đấng ngự trên trời.

Muối và ánh sáng mà Đức Giêsu muốn nói đến là những công việc tốt lành, đặc biệt là những công việc bác ái và yêu thương. Khi bảo chúng ta hãy để ánh sáng của chúng ta chiếu soi trước mặt mọi người, Ngài không bảo chúng ta quảng cáo, phô trương những việc tốt chúng ta làm; nhưng qua đó, chúng ta làm chứng cho thế gian về Thiên Chúa.  Khi sống đạo mà phân cách đạo khỏi đời sống thì chẳng khác nào muối đã nhạt, ánh sáng đã bị che khuất. Sống và thực hành lý tưởng tôn giáo,người ta đem đến cho đời, cho tha nhân một chứng từ của niềm tin. Khi mối và ánh sáng trở nên chúng từ để tôn vin Thiên Chúa thì tự chúng đã trở thành một lời công bố Tin Mừng

Một ngày nọ, có một vị khách đến thăm ngôi nhà mà Mẹ Têrêsa dành cho người nghèo và người hấp hối ở Calcutta. Khi ông vừa tới thì các nữ tu đưa vào một vài người đang hấp hối từ ống cống về, mình dính đầy bụi đất và đang đau đớn. Một chị đang chăm sóc cho người sắp chết mà không để ý đến người đang quan sát mình. Chị tắm rửa và  mỉm cười với người ấy.

Nhìn thấy thế, ông khách quay lại với Mẹ Têrêsa và nói: “ Hôm nay, khi đến đây, tôi đã không tin Thiên Chúa, vì lòng tôi đầy thù hận. Nhưng giờ đây, tôi ra về với lòng tin Thiên Chúa. Tôi đã thấy tình yêu của Thiên Chúa đang hoạt động. Qua đôi bàn tay của chị nữ tu kia, qua sự dịu dàng, qua cử chỉ đầy thương yêu của chị đối với người bất hạnh ấy, tôi đã nhìn thấy tình yêu của Thiên Chúa xuống trên người ấy. Bây giờ thì tôi tin.”

Sau khi truyền cho các môn đệ và những người đi theo phải trở thành muối cho đời và ánh sáng cho trần gian, Đúc Giêsu đã đưa ra một số công việc nhân đức mà những ai tin và theo Ngài phải làm là sống theo những gì Ngài truyền dạy,  phải ăn ở theo đức công chính, không giận ghét, không trả thù, phải yêu kẻ thù, bố thí, cầu nuyện, ăn chay cách kín đáo…Qua miệng ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã cho biết cách ăn chay đẹp lòng Ngài nhất là “chia cơm cho người đói, rước vào nhà nhưng người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục. Bấy giờ ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi.”(xem  Is 58:7-8) Đó là muối, là ánh sáng cho đời.

Thực thi những nhân đức ấy là thực hành Tám Mối Phúc Thật, là trở nên muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.  Đức Giêsu là muối cho đời, là ánh sáng thế gian, thì đến lượt các môn đệ và những ai tin và theo Ngài cũng phải là muối, là ánh sáng cho thế gian. Muối và ánh sáng là đức tin thể hiện qua hành động và cuộc sống.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản Nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim