SUY NIỆM CHÚA NHẬT II MÙA PHỤC SINH

CỦNG CỐ ĐỨC TIN

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Có một chi tiết đặc biệt liên quan tới đoạn Phúc Âm vừa nghe, đó là cùng một đoạn Phúc Âm này đã được chọn để dùng cho Chúa Nhật thứ hai phục sinh cho ba năm liền A, B, và C, nghĩa là năm nào vào Chúa Nhật thứ hai phục sinh, chúng ta cũng đều đọc, nghe đoạn Phúc Âm này. Chi tiết này nói lên tầm quan trọng và ý nghĩa phong phú trong Mùa Phục Sinh. Chúa Giêsu Phục Sinh là trung tâm và là nguồn năng lực tái tạo cộng đoàn những đồ đệ của Chúa.

Ngay từ khởi đầu đoạn Phúc Âm, chúng ta được nhắc lại việc Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ nhưng lại vắng mặt Thomas, và trong lần hiện ra này, Chúa đã ban cho các tông đồ sự bình an: "Bình an cho các con". Sự bình an này làm cho các tông đồ thực sự được vui mừng. Các tông đồ được vui vì thấy Chúa, rồi Chúa trao ban cho các tông đồ Chúa Thánh Thần, quyền năng tha tội và sai các ông ra đi làm chứng cho Chúa. Các tông đồ có thể nói được trong giai đoạn này – trong phần thứ nhất của đoạn Phúc Âm hôm nay – đã tin phần nào và đã chia sẻ cho Thomas: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa", nhưng Thomas không tin và đòi kiểm chứng một cách cụ thể. Có thể nói, đây là giai đoạn thứ hai của cộng đoàn. Thái độ cứng lòng tin của Thomas đã gây chia rẽ hay làm yếu kém đi sức mạnh làm chứng của cộng đoàn cho Chúa Phục Sinh. Một cộng đoàn chia rẽ như vậy thì chắc chắn không thể nào có sự bình an, không thể nào có niềm vui để làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

Cộng đoàn Kitô chúng ta ngày hôm nay là một cộng đoàn của những người tin Chúa Phục Sinh đã qui tụ lại. Chắc chắn Chúa Phục Sinh hiện diện ở giữa chúng ta, Ngài là trung tâm liên kết và nâng đỡ sự hiệp nhất của cộng đoàn chúng ta, Ngài là nguồn mạch của sự bình an và niềm vui của cộng đoàn chúng ta. Chúa Phục Sinh ban cho cộng đoàn các đồ đệ đầu tiên sự bình an, Chúa Thánh Thần và sức mạnh làm chứng cho Chúa. Đó là một cộng đoàn lý tưởng cho tất cả mọi cộng đoàn Kitô khác rải rác khắp nơi trên thế giới, qua muôn thế hệ. Đó là một cộng đoàn lý tưởng, trong đó niềm vui và sự bình an đã thay thế cho sự u buồn thất vọng: thấy Chúa các tông đồ đều vui mừng. Và niềm vui, sự bình an này luôn luôn là dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa. Nhưng vì là những con người cụ thể, như chúng ta đây, mỗi người đều có những giới hạn của mình và cộng đoàn của chúng ta, cộng đoàn của các môn đệ Chúa chắc chắn phải trải qua những thử thách, những trở ngại.

Sự vắng mặt, sự cứng lòng tin của Thomas, thái độ của Thomas, tất cả những điều đó đã góp phần hay ảnh hưởng trên sự hiệp nhất của cộng đoàn. Sự vắng mặt của chúng ta, sự cứng lòng tin của mỗi người chúng ta hay thái độ của chúng ta đối với Chúa Giêsu cũng như đối với anh chị em, thái độ đó cũng có ảnh hưởng trên sự hiệp nhất của cộng đoàn. Chúa Giêsu đã đáp lại khuyết điểm này của cộng đoàn các tông đồ để mang lại niềm vui và sự bình an, để trao ban sứ mạng qua việc Chúa đáp lại đòi hỏi của Thomas để biến đổi ông, và Thomas đã tin và tuyên xưng: "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa Trời tôi, Lạy Chúa và là Chúa Trời con". Và Chúa Giêsu dường như muốn cho các môn đệ của Ngài từ đó không nên thách thức như Thomas nữa: "Phúc cho những ai không thấy mà tin".

Cộng đoàn chúng ta hôm nay cần thực hiện lý tưởng của cộng đoàn Kitô tiên khởi của các đồ đệ. Hãy để cho Chúa Giêsu Phục Sinh qui tụ chúng ta lại trong tình yêu của Người, hãy đón nhận sự bình an của Chúa trong niềm vui nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần để làm chứng một cách xứng đáng cho Chúa. Nhưng như vừa nói chúng ta đây là những con người có giới hạn và Chúa Phục Sinh cũng đã hiểu như thế nên Ngài đã thiết lập và để lại cho chúng ta một phương thế để tái tạo sự hiệp nhất của cộng đoàn, để gìn giữ cộng đoàn được luôn hiệp nhất với Chúa và giữa mọi người với nhau, phương thế đó là bí tích Hòa Giải: "Các con tha tội cho ai thì trên trời cũng tha; các con cầm tội ai thì trên trời cũng cầm lại".

Không có phương pháp nhân loại nào khác có sức phục hồi và củng cố sự hiệp nhất cộng đoàn các môn đệ Chúa cho bằng phương thế siêu nhiên mà Chúa Giêsu đã thiết lập và muốn cho các tông đồ sử dụng, và chúng ta biết rất rõ phương thế đó là phương thế nào. Đó là sự tha thứ bí tích, và đó cũng là bí tích của sự tha thứ. Dĩ nhiên, để lãnh nhận bí tích tha thứ của Chúa để chúng ta được tha thứ và tha thứ cho nhau, để xây dựng lại sự hiệp nhất cộng đoàn các môn đệ Chúa, để làm cho cộng đoàn chúng ta có thể chu toàn sứ mệnh Chúa đã trao phó "Hãy làm chứng cho Thầy", thì mỗi người chúng ta cần hành động như Thomas, cần kiểm điểm lại đức tin của mình và loại bỏ đi những gì không phù hợp với đức tin trong nếp sống của chúng ta, để có thể khiêm tốn tuyên xưng mỗi ngày, mỗi giây phút: "Lạy Chúa, Lạy Chúa Trời con, Lạy Chúa, con tin Chúa là Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ của con." Cần phải canh tân đức tin hàng ngày để đức tin của chúng ta được củng cố thêm mãi, để chúng ta có được sự bình an, niềm vui và sức mạnh làm chứng cho Chúa mọi nơi, mọi lúc.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta canh tân đức tin và củng cố đức tin.

Veritas Radio

 

GẶP GỠ CHÚA KITÔ PHỤC SINH

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bần loạn sau cái chết của Thầy, Chúa Kitô Phục Sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”.

Trong suốt Tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục Sinh đến nay, Chúa Nhật II Phục Sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra. Từ những lần thấy  Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

Chúa Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Chúa Kitô Phục Sinh không con bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nới các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmaus, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đang đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syria, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Chúa Kitô Phục Sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Chúa Kitô Phục Sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở làng Emmaus khi trời sắp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Chúa Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào mà Người không ở bên ta.

Chúa Kitô Phục Sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn. bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmaus, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

Chúa Ktô Phục Sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bần loạn sau cái chết của Thầy, Chúa Kitô Phục Sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần”. Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần Linh Chúa bay là  là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Chúa Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Chúa Kitô Phục Sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmaus u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn nấp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Chúa Kitô Phục Sinh chính là niềm bình  an cho các ông.

Chúa Kitô Phục Sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Chúa Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. không, họ không con sống nữa vì cuộc đời đối với họchẳng còn ý nghĩa gì. họ như đã chết với Thầy. chỉ có nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Chúa Kitô là linh hồn của họ. linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Chúa Kitô Phục Sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp Người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

Chúa Kitô Phục Sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh.

Chúa Kitô Phục Sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc sống các môn đệ. Chúa Kitô Phục Sinh là Tin Mừng lớn lào trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmaus lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một Người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Chúa Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”.

Tất cả những Người đã thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Chúa Kitô Phục Sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Chúa Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Hôm nay Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến khi mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta. Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm. Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú mẹ. Người ở bên em học sinh đang mải mê đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên những cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người. Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

 

CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG TIN LÀ CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG MẾN

Lòng thương xót của Chúa được biểu lộ qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá. Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn

Chúa nhật II phục sinh, Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương. Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta” (Tiểu nhật ký, số 699). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005). Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được biểu lộ qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá. Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo. Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa. Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao ban bình an, là Chúa cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài. Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi. Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin.

Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Thánh Matthêu thuật lại : khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ : Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi. Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17). Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên.

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay. Chỉ tin những gì thấy được. Chỉ chấp nhận những gì sờ được. Đòi kiểm nghiệm tất cả. Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả. Không chỉ tin vào lời nói suông. Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác. Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin. Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma? Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã. Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì ‘thấy được, sờ được’. Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe. Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta. Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại. Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa. Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng. Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng ‘lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi’. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình : “Lạy Thiên Chúa của con”. Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói : “người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi”. Nhà thần học Paul Tillich nói : “sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin. Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh”. Còn Thomas Merton bảo: “người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin”. Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: “Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững”. Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy. Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy,tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma : “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28). Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra. Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan là tức khắc nhận ra đó là Thầy mình. Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn.

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc. Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó. Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời. Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để đào sâu đức tin và canh tân chứng tá Kitô giáo. Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi. Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót. Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót.

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân. Mỗi người, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ. Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12). Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn Dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống. Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống”.

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con. Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa”. Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến. Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc. Càng tin vững thì càng bình an. Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến. “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa.   

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Nhật Tuần II Phục Sinh Năm A

Chúa Nhật Tuần II Phục Sinh Năm A

LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

CHÚA NHẬT 04-23-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 2, 42-47

"Tất cả mọi kẻ tin, đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện. Mọi người đều có lòng kính sợ. Vì các Tông đồ làm nhiều việc phi thường và nhiều phép lạ tại Giêrusalem, nên mọi người đều sợ hãi. Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung.

Họ bán tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người.

Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ; họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến chuộng. Hằng ngày Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 2-4. 13-15. 22-24

Đáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

1) Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở"Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". – Đáp.

2) Tôi đã bị đẩy, bị xô cho ngã xuống, nhưng Chúa đã phù trợ tôi. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của tôi, và Người trở nên Đấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang lên trong cư xá những kẻ hiền nhân. Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.- Đáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Pr 1, 3-9

"Nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết. Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải sầu khổ một ít lâu giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện, nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự khi Đức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 20, 29

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin". – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31

"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Đoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người. Đó là lời Chúa.

 

Second Sunday of Easter (or Sunday of Divine Mercy)

SUNDAY 04-23-2017

Reading 1 Acts 2:42-47

They devoted themselves
to the teaching of the apostles and to the communal life,
to the breaking of bread and to the prayers.
Awe came upon everyone,
and many wonders and signs were done through the apostles.
All who believed were together and had all things in common;
they would sell their property and possessions
and divide them among all according to each one's need.
Every day they devoted themselves
to meeting together in the temple area
and to breaking bread in their homes.
They ate their meals with exultation and sincerity of heart,
praising God and enjoying favor with all the people.
And every day the Lord added to their number those who were being saved.

Responsorial Psalm Ps 118:2-4, 13-15, 22-24

R. (1) Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.
Let the house of Israel say,
"His mercy endures forever."
Let the house of Aaron say,
"His mercy endures forever."
Let those who fear the LORD say,
"His mercy endures forever."
R. Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.
I was hard pressed and was falling,
but the LORD helped me.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
The joyful shout of victory
in the tents of the just:
R. Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.
The stone which the builders rejected
has become the cornerstone.
By the LORD has this been done;
it is wonderful in our eyes.
This is the day the LORD has made;
let us be glad and rejoice in it.
R. Give thanks to the LORD, for he is good, his love is everlasting.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 1 Pt 1:3-9

Blessed be the God and Father of our Lord Jesus Christ,
who in his great mercy gave us a new birth to a living hope
through the resurrection of Jesus Christ from the dead,
to an inheritance that is imperishable, undefiled, and unfading,
kept in heaven for you
who by the power of God are safeguarded through faith,
to a salvation that is ready to be revealed in the final time.
In this you rejoice, although now for a little while
you may have to suffer through various trials,
so that the genuineness of your faith,
more precious than gold that is perishable even though tested by fire,
may prove to be for praise, glory, and honor
at the revelation of Jesus Christ.
Although you have not seen him you love him;
even though you do not see him now yet believe in him,
you rejoice with an indescribable and glorious joy,
as you attain the goal of your faith, the salvation of your souls.

Alleluia Jn 20:29

R. Alleluia, alleluia.
You believe in me, Thomas, because you have seen me, says the Lord;
blessed are they who have not seen me, but still believe!
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 20:19-31

On the evening of that first day of the week,
when the doors were locked, where the disciples were,
for fear of the Jews,
Jesus came and stood in their midst
and said to them, "Peace be with you."
When he had said this, he showed them his hands and his side.
The disciples rejoiced when they saw the Lord.
Jesus said to them again, "Peace be with you.
As the Father has sent me, so I send you."
And when he had said this, he breathed on them and said to them,
"Receive the Holy Spirit.
Whose sins you forgive are forgiven them,
and whose sins you retain are retained."

Thomas, called Didymus, one of the Twelve,
was not with them when Jesus came.
So the other disciples said to him, "We have seen the Lord."
But he said to them,
"Unless I see the mark of the nails in his hands
and put my finger into the nailmarks
and put my hand into his side, I will not believe."

Now a week later his disciples were again inside
and Thomas was with them.
Jesus came, although the doors were locked,
and stood in their midst and said, "Peace be with you."
Then he said to Thomas, "Put your finger here and see my hands,
and bring your hand and put it into my side,
and do not be unbelieving, but believe."
Thomas answered and said to him, "My Lord and my God!"
Jesus said to him, "Have you come to believe because you have seen me?
Blessed are those who have not seen and have believed."

Now, Jesus did many other signs in the presence of his disciples
that are not written in this book.
But these are written that you may come to believe
that Jesus is the Christ, the Son of God,
and that through this belief you may have life in his name.

 

ÁNH SÁNG CUỐI CON ĐƯỜNG

 ÁNH SÁNG CUỐI CON ĐƯỜNG

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Bài đọc 1 : ( Cv 10:34,37-43). Bài đọc 2 : (Cl 3: 1-4). Tin Mừng : (Ga 20:1-9)

Táng xác Thầy vội vã chưa kịp làm đúng các thủ tục phải có, sáng sớm, ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala và mấy phụ nữ nữa mua dầu thơm để đi ướp xác Thầy. Các bà lo âu : Tảng đá nặng thế, ai sẽ lăn ra được đây. Thật bất ngờ, khi đến mộ, tảng đá đã được lăn ra; nhìn vào trong, các bà chẳng thấy có ai. Ngôi mộ trống. Hoảng hốt, các bà chạy về báo cho ông Phêrô và người môn đệ Thầy yêu mến: “ Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu? “ Có người đã đánh cắp xác Thầy rồi ư! Phêrô và Gioan cùng chạy ra mồ. Còn trai trẻ, Gioan tới mộ trước. Ông thấy những băng vải vẫn còn đó, nhưng không vào. Chờ cho Phêrô đến, cả hai cùng vào. Họ tận mắt nhìn thấy “ngôi mộ trống, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuộn lại, xếp riêng ra một nơi.” Qua những đấu hiệu ấy và dựa vào lời Kinh Thánh, ông Gioan đã thấy và ông đã tin. “  Những gì ông  thấy chỉ để minh chứng cho những gì ông đã được biết qua Kinh Thánh về những gì Đấng Mêsia sẽ phải trải qua.  Ông xác tín Thầy đã sống lại vì ông có một niềm tin vào truyền thống của dân Chúa, và vào những gì Thiên đã Chúa mặc khải qua thời gian.

Chúa Giêsu đã sống lại. Allêluia! Đó là tin vui và niềm hy vọng  cho cả nhân loại, và cho những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa như thánh Phaolô đã nói : “Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn con sống trong tội lỗi của anh em.” và ngài làm chứng rằng: “ Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đứng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.” Rồi ngài kết luận: “ Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng  tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.”

Chúng ta tin Chúa sống lại nhưng không trực tiếp tiếp cận với những biến cố đã xảy ra, nhưng qua những chứng nhân là các môn đệ và Kinh Thánh. Vì thế mọi sự trở nên bấp bênh và khó khăn hơn; nhưng với thời gian và với niềm tin Con Thiên Chúa đã đồng hành với chúng ta qua thời gian, những điều đó chứng minh rằng chúng ta chứng kiến mầu nhiệm phục sinh bằng niềm tin.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu cho phép chúng ta tin tưởng và vui mừng về sự phụ sinh của chúng ta. Nguyên lý của đời sống mới là  kết hợp với Đức Kitô phục sinh như thánh Phaolô đã viết: “ Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” nếu  chúng ta tin Đức Kitô đã chỗi dậy để chỉ đặt niềm tin vì cuộc đời này hơn là vì cuộc sống ngày mai thì thật tội nghiệp như lời thánh  Phaolô  đã nói:  “ Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.”

Vậy chúng  ta phải sống niềm tin ấy như thế nào? Mơ hồ về số phận con người sau cái chết! hay thương nhớ người thân bằng môt tâm tình sẽ phôi phai theo thời gian! Dường như chúng ta vẫn còn nhập nhằng chưa dứt khóat về cuộc sống trần gian và cuộc sống vĩnh cửu trên Nước Thiên Chúa.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

 

 

Chúa Nhật Phục Sinh

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

CHÚA NHẬT 04-16-2017

BÀI ĐỌC I: Cv 10, 34a. 37-43

"Chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: "Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Đấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Đáp: Đây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó (c. 24).

1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". – Đáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Đáp. 

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Cl 3, 1-4

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang. Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc: 1 Cr 5, 6b-8

"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.

Anh em thân mến, anh em không biết sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới; anh em là bánh không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Đức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật. Đó là lời Chúa.

CA TIẾP LIÊN

Các Kitô hữu hãy tiến dâng lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua. Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ: Đức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha. Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị. Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghebà đã thấy gì trên quãng đường đi? Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống và vinh quang của Đấng Phục Sinh, thấy các thiên thần làm chứng, thấy khăn liệm và y phục. Đức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh, Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.

Chúng tôi biết Đức Kitô đã sống lại thật từ cõi chết! Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.

ALLELUIA: 1 Cr 5, 7b-8a

Alleluia, alleluia! – Lễ Vượt Qua của chúng ta là Đức Kitô đã hiến tế; vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa. – Alleluia. 

PHÚC ÂM: Ga 20, 1-9

"Người phải sống lại từ cõi chết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết. Đó là lời Chúa.

======================

Hay

PHÚC ÂM: Mt 28, 1-10

"Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ .Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: "Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Đây Ta đã báo trước cho các bà hay".

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta". Đó là lời Chúa.

The Resurrection of the Lord
The Mass of Easter Day

SUNDAY 04-16-2017

Reading 1 Acts 10:34a, 37-43

Peter proceeded to speak and said:
"You know what has happened all over Judea,
beginning in Galilee after the baptism
that John preached,
how God anointed Jesus of Nazareth
with the Holy Spirit and power.
He went about doing good
and healing all those oppressed by the devil,
for God was with him.
We are witnesses of all that he did
both in the country of the Jews and in Jerusalem.
They put him to death by hanging him on a tree.
This man God raised on the third day and granted that he be visible,
not to all the people, but to us,
the witnesses chosen by God in advance,
who ate and drank with him after he rose from the dead.
He commissioned us to preach to the people
and testify that he is the one appointed by God
as judge of the living and the dead.
To him all the prophets bear witness,
that everyone who believes in him
will receive forgiveness of sins through his name."

Responsorial Psalm Ps 118:1-2, 16-17, 22-23

R. (24) This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.
Give thanks to the LORD, for he is good,
for his mercy endures forever.
Let the house of Israel say,
"His mercy endures forever."
R. This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.
"The right hand of the LORD has struck with power;
the right hand of the LORD is exalted.
I shall not die, but live,
and declare the works of the LORD."
R. This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.
The stone which the builders rejected
has become the cornerstone.
By the LORD has this been done;
it is wonderful in our eyes.
R. This is the day the Lord has made; let us rejoice and be glad.
or:
R. Alleluia.

Reading 2 Col 3:1-4

Brothers and sisters:
If then you were raised with Christ, seek what is above,
where Christ is seated at the right hand of God.
Think of what is above, not of what is on earth.
For you have died, and your life is hidden with Christ in God.
When Christ your life appears,
then you too will appear with him in glory.

or 1 Cor 5:6b-8

Brothers and sisters:
Do you not know that a little yeast leavens all the dough?
Clear out the old yeast,
so that you may become a fresh batch of dough,
inasmuch as you are unleavened.
For our paschal lamb, Christ, has been sacrificed.
Therefore, let us celebrate the feast,
not with the old yeast, the yeast of malice and wickedness,
but with the unleavened bread of sincerity and truth.

Sequence — Victimae Paschali Laudes

Christians, to the Paschal Victim
Offer your thankful praises!
A Lamb the sheep redeems;
Christ, who only is sinless,
Reconciles sinners to the Father.
Death and life have contended in that combat stupendous:
The Prince of life, who died, reigns immortal.
Speak, Mary, declaring
What you saw, wayfaring.
"The tomb of Christ, who is living,
The glory of Jesus' resurrection;
bright angels attesting,
The shroud and napkin resting.
Yes, Christ my hope is arisen;
to Galilee he goes before you."
Christ indeed from death is risen, our new life obtaining.
Have mercy, victor King, ever reigning!
Amen. Alleluia.

Alleluia Cf. 1 Cor 5:7b-8a

R. Alleluia, alleluia.
Christ, our paschal lamb, has been sacrificed;
let us feast with joy in the Lord.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel Jn 20:1-9

On the first day of the week,
Mary of Magdala came to the tomb early in the morning,
while it was still dark,
and saw the stone removed from the tomb.
So she ran and went to Simon Peter
and to the other disciple whom Jesus loved, and told them,
"They have taken the Lord from the tomb,
and we don't know where they put him."
So Peter and the other disciple went out and came to the tomb.
They both ran, but the other disciple ran faster than Peter
and arrived at the tomb first;
he bent down and saw the burial cloths there, but did not go in.
When Simon Peter arrived after him,
he went into the tomb and saw the burial cloths there,
and the cloth that had covered his head,
not with the burial cloths but rolled up in a separate place.
Then the other disciple also went in,
the one who had arrived at the tomb first,
and he saw and believed.
For they did not yet understand the Scripture
that he had to rise from the dead.

Or Mt 28:1-10

After the sabbath, as the first day of the week was dawning,
Mary Magdalene and the other Mary came to see the tomb.
And behold, there was a great earthquake;
for an angel of the Lord descended from heaven,
approached, rolled back the stone, and sat upon it.
His appearance was like lightning
and his clothing was white as snow.
The guards were shaken with fear of him
and became like dead men.
Then the angel said to the women in reply,
"Do not be afraid!
I know that you are seeking Jesus the crucified.
He is not here, for he has been raised just as he said.
Come and see the place where he lay.
Then go quickly and tell his disciples,
'He has been raised from the dead,
and he is going before you to Galilee;
there you will see him.'
Behold, I have told you."
Then they went away quickly from the tomb,
fearful yet overjoyed,
and ran to announce this to his disciples.
And behold, Jesus met them on their way and greeted them.
They approached, embraced his feet, and did him homage.
Then Jesus said to them, "Do not be afraid.
Go tell my brothers to go to Galilee,
and there they will see me."

Or Lk 24:13-35

At an afternoon or evening Mass.

That very day, the first day of the week,
two of Jesus' disciples were going
to a village seven miles from Jerusalem called Emmaus,
and they were conversing about all the things that had occurred.
And it happened that while they were conversing and debating,
Jesus himself drew near and walked with them,
but their eyes were prevented from recognizing him.
He asked them,
"What are you discussing as you walk along?"
They stopped, looking downcast.
One of them, named Cleopas, said to him in reply,
"Are you the only visitor to Jerusalem
who does not know of the things
that have taken place there in these days?"
And he replied to them, "What sort of things?"
They said to him,
"The things that happened to Jesus the Nazarene,
who was a prophet mighty in deed and word
before God and all the people,
how our chief priests and rulers both handed him over
to a sentence of death and crucified him.
But we were hoping that he would be the one to redeem Israel;
and besides all this,
it is now the third day since this took place.
Some women from our group, however, have astounded us:
they were at the tomb early in the morning
and did not find his body;
they came back and reported
that they had indeed seen a vision of angels
who announced that he was alive.
Then some of those with us went to the tomb
and found things just as the women had described,
but him they did not see."
And he said to them, "Oh, how foolish you are!
How slow of heart to believe all that the prophets spoke!
Was it not necessary that the Christ should suffer these things
and enter into his glory?"
Then beginning with Moses and all the prophets,
he interpreted to them what referred to him
in all the Scriptures.
As they approached the village to which they were going,
he gave the impression that he was going on farther.
But they urged him, "Stay with us,
for it is nearly evening and the day is almost over."
So he went in to stay with them.
And it happened that, while he was with them at table,
he took bread, said the blessing,
broke it, and gave it to them.
With that their eyes were opened and they recognized him,
but he vanished from their sight.
Then they said to each other,
"Were not our hearts burning within us
while he spoke to us on the way and opened the Scriptures to us?"
So they set out at once and returned to Jerusalem
where they found gathered together
the eleven and those with them who were saying,
"The Lord has truly been raised and has appeared to Simon!"
Then the two recounted
what had taken place on the way
and how he was made known to them in the breaking of bread.

 

THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

THỨ BẢY 04-15-2017

Đề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài Trích ở Cựu Ước và hai bài trích ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích sách Xuất Hành (Xh 14, 15 – 15, 1) nói về việc qua Biển Đỏ.

BÀI ĐỌC I: St 1, 1 – 2, 2 {hoặc 1, 1. 26-31a}

"Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp".

Trích sách Sáng Thế.

Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Đất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước.

Thiên Chúa phán: "Hãy có ánh sáng". Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Thiên Chúa phán: "Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước"; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

Thiên Chúa phán: "Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Đất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

Thiên Chúa còn phán: "Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

Thiên Chúa lại phán: "Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.

Thiên Chúa lại phán: "Đất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất".

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi. Đó là lời Chúa.

__________________________
Hoặc bài vắn này: St 1, 1. 26-31a

Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất".

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22

Đáp: Địa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).

1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.

2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng.- Đáp.

3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái loài người. – Đáp.

4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Đấng phù trợ và che chở chúng tôi. – Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: St 22, 1-18 (Bài dài)

"Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham". Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi". Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa đã tỏ cho ông.

Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng xa. Abraham mới bảo tôi tớ: "Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ về lại với các anh". Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước. Isaác cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: "Cha!" Ông đáp: "Ta đây, con!" Cậu hỏi: "Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng hiến ở đâu?" Abraham đáp: "Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ". Rồi cả hai cùng bước.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là "Thiên Chúa sẽ liệu", khiến ngày nay người ta còn nói: "Trên núi Thiên Chúa sẽ liệu".

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta". Đó là lời Chúa.

_______________________________________
Hoặc đọc bài vắn này: St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham". Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi".

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình.

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 15, 5 và 8. 9-10. 11

Đáp: Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1a).

1) Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. – Đáp.

2) Bởi thế, lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy điều hư nát. – Đáp.

3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Đáp.

BÀI ĐỌC III: Xh 14, 15 – 15, 1

"Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn".

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết".

Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.

Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: "Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta".

Chúa phán bảo Môsê: "Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng". Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người.

Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này:
(Không đọc: Đó là lời Chúa).

ĐÁP CA: Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18

Đáp: Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. – Đáp.

2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Đỏ các tướng lãnh của ông. – Đáp.

3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. – Đáp.

4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp. – Đáp.

BÀI ĐỌC IV: Is 54, 5-14

"Trong tình yêu vĩnh cửu, Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi".
Trích sách Tiên tri Isaia.

Đấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa các cơ binh, Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đấng Thánh Israel, Người sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.

Thiên Chúa ngươi đã phán: "Chúa gọi ngươi như gọi người thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi, Chúa là Đấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.

Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi, không quở trách ngươi nữa.

Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.

Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy thuỷ tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành ngươi.

Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng một nền hoà bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ không có ai hãm hại được ngươi nữa". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11 và 12a và 13b

Đáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).

1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. – Đáp.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.- Đáp.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. – Đáp.

BÀI ĐỌC V: Is 55, 1-11

"Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mỹ vị.

Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Đavít: Đây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.

Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.

Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6

Đáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Đấng Cứu Độ (c. 3).

1) Đây Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Đấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. – Đáp.

2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. – Đáp.

3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Đấng cao cả là Đấng Thánh Israel ở giữa ngươi. – Đáp.

BÀI ĐỌC VI: Br 3, 9-15. 32 – 4, 4

"Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa".

Trích sách Tiên tri Barúc.

Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe để hiểu biết sự khôn ngoan.

Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng nếu ngươi theo đường lối Chúa,thì ngươi đã luôn sống trong bình an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? Chính Đấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do đức khôn ngoan của Người.

Người là Đấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng trả lời rằng: "Có mặt". Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Đấng sáng tạo chúng.

Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó, Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.

Đó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết. Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Đừng trao vinh quang ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp lòng Chúa. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 18, 8. 9. 10. 11

Đáp: Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. – Đáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. – Đáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy. – Đáp.

4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy từ tàng ong. – Đáp.

BÀI ĐỌC VII: Ed 36, 16-17a. 18-28

"Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Đây lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: "Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người". Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ.

Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: "Đây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ.
Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần.

Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4

Đáp: Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)

1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời? – Đáp.

2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân tiến vào nhà Đức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi.- Đáp.

3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài. – Đáp.

4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con. – Đáp.

______________________________________
Hoặc (khi có Rửa tội): Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19

Đáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).

1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. – Đáp.

2) Xin Chúa lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. – Đáp.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. – Đáp.

THÁNH THƯ: Rm 6, 3-11

"Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại, Người không chết nữa".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.

Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi.

Mà nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Đức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Đáp: Alleluia, alleluia, alleluia.

1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". – Đáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Đáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Đáp.

PHÚC ÂM: Mt 28, 1-10

"Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: "Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Đây Ta đã báo trước cho các bà hay".

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta". Đó là lời Chúa.

Holy Saturday
At the Easter Vigil in the Holy Night of Easter

SATURDAY 04-15-2017
 

Reading 1 Gn 1:1—2:2

In the beginning, when God created the heavens and the earth,
the earth was a formless wasteland, and darkness covered the abyss,
while a mighty wind swept over the waters.

Then God said,
"Let there be light," and there was light.
God saw how good the light was.
God then separated the light from the darkness.
God called the light "day," and the darkness he called "night."
Thus evening came, and morning followed—the first day.

Then God said,
"Let there be a dome in the middle of the waters,
to separate one body of water from the other."
And so it happened:
God made the dome,
and it separated the water above the dome from the water below it.
God called the dome "the sky."
Evening came, and morning followed—the second day.

Then God said,
"Let the water under the sky be gathered into a single basin,
so that the dry land may appear."
And so it happened:
the water under the sky was gathered into its basin,
and the dry land appeared.
God called the dry land "the earth, "
and the basin of the water he called "the sea."
God saw how good it was.
Then God said,
"Let the earth bring forth vegetation:
every kind of plant that bears seed
and every kind of fruit tree on earth
that bears fruit with its seed in it."
And so it happened:
the earth brought forth every kind of plant that bears seed
and every kind of fruit tree on earth
that bears fruit with its seed in it.
God saw how good it was.
Evening came, and morning followed—the third day.

Then God said:
"Let there be lights in the dome of the sky,
to separate day from night.
Let them mark the fixed times, the days and the years,
and serve as luminaries in the dome of the sky,
to shed light upon the earth."
And so it happened:
God made the two great lights,
the greater one to govern the day,
and the lesser one to govern the night;
and he made the stars.
God set them in the dome of the sky,
to shed light upon the earth,
to govern the day and the night,
and to separate the light from the darkness.
God saw how good it was.
Evening came, and morning followed—the fourth day.

Then God said,
"Let the water teem with an abundance of living creatures,
and on the earth let birds fly beneath the dome of the sky."
And so it happened:
God created the great sea monsters
and all kinds of swimming creatures with which the water teems,
and all kinds of winged birds.
God saw how good it was, and God blessed them, saying,
"Be fertile, multiply, and fill the water of the seas;
and let the birds multiply on the earth."
Evening came, and morning followed—the fifth day.

Then God said,
"Let the earth bring forth all kinds of living creatures:
cattle, creeping things, and wild animals of all kinds."
And so it happened:
God made all kinds of wild animals, all kinds of cattle,
and all kinds of creeping things of the earth.
God saw how good it was.
Then God said:
"Let us make man in our image, after our likeness.
Let them have dominion over the fish of the sea,
the birds of the air, and the cattle,
and over all the wild animals
and all the creatures that crawl on the ground."
God created man in his image;
in the image of God he created him;
male and female he created them.
God blessed them, saying:
"Be fertile and multiply;
fill the earth and subdue it.
Have dominion over the fish of the sea, the birds of the air,
and all the living things that move on the earth."
God also said:
"See, I give you every seed-bearing plant all over the earth
and every tree that has seed-bearing fruit on it to be your food;
and to all the animals of the land, all the birds of the air,
and all the living creatures that crawl on the ground,
I give all the green plants for food."
And so it happened.
God looked at everything he had made, and he found it very good.
Evening came, and morning followed—the sixth day.

Thus the heavens and the earth and all their array were completed.
Since on the seventh day God was finished
with the work he had been doing,
he rested on the seventh day from all the work he had undertaken.

or Gn 1:1, 26-31a

In the beginning, when God created the heavens and the earth,
God said: "Let us make man in our image, after our likeness.
Let them have dominion over the fish of the sea,
the birds of the air, and the cattle,
and over all the wild animals
and all the creatures that crawl on the ground."
God created man in his image;
in the image of God he created him;
male and female he created them.
God blessed them, saying:
"Be fertile and multiply;
fill the earth and subdue it.
Have dominion over the fish of the sea, the birds of the air,
and all the living things that move on the earth."
God also said:
"See, I give you every seed-bearing plant all over the earth
and every tree that has seed-bearing fruit on it to be your food;
and to all the animals of the land, all the birds of the air,
and all the living creatures that crawl on the ground,
I give all the green plants for food."
And so it happened.
God looked at everything he had made, and found it very good.

Responsorial Psalm Ps 104:1-2, 5-6, 10, 12, 13-14, 24, 35

R. (30) Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
Bless the LORD, O my soul!
O LORD, my God, you are great indeed!
You are clothed with majesty and glory,
robed in light as with a cloak.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
You fixed the earth upon its foundation,
not to be moved forever;
with the ocean, as with a garment, you covered it;
above the mountains the waters stood.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
You send forth springs into the watercourses
that wind among the mountains.
Beside them the birds of heaven dwell;
from among the branches they send forth their song.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
You water the mountains from your palace;
the earth is replete with the fruit of your works.
You raise grass for the cattle,
and vegetation for man's use,
Producing bread from the earth.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.
How manifold are your works, O LORD!
In wisdom you have wrought them all—the earth is full of your creatures.
Bless the LORD, O my soul! Alleluia.
R. Lord, send out your Spirit, and renew the face of the earth.

or Ps 33:4-5, 6-7, 12-13, 20 and 22

R. (5b) The earth is full of the goodness of the Lord.
Upright is the word of the LORD,
and all his works are trustworthy.
He loves justice and right;
of the kindness of the LORD the earth is full.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.
By the word of the LORD the heavens were made;
by the breath of his mouth all their host.
He gathers the waters of the sea as in a flask;
in cellars he confines the deep.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.
Blessed the nation whose God is the LORD,
the people he has chosen for his own inheritance.
From heaven the LORD looks down;
he sees all mankind.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.
Our soul waits for the LORD,
who is our help and our shield.
May your kindness, O LORD, be upon us
who have put our hope in you.
R. The earth is full of the goodness of the Lord.

Reading 2 Gn 22:1-18

God put Abraham to the test.
He called to him, "Abraham!"
"Here I am, " he replied.
Then God said:
"Take your son Isaac, your only one, whom you love,
and go to the land of Moriah.
There you shall offer him up as a holocaust
on a height that I will point out to you."
Early the next morning Abraham saddled his donkey,
took with him his son Isaac and two of his servants as well,
and with the wood that he had cut for the holocaust,
set out for the place of which God had told him.

On the third day Abraham got sight of the place from afar.
Then he said to his servants:
"Both of you stay here with the donkey,
while the boy and I go on over yonder.
We will worship and then come back to you."
Thereupon Abraham took the wood for the holocaust
and laid it on his son Isaac's shoulders,
while he himself carried the fire and the knife.
As the two walked on together, Isaac spoke to his father Abraham:
"Father!" Isaac said.
"Yes, son, " he replied.
Isaac continued, "Here are the fire and the wood,
but where is the sheep for the holocaust?"
"Son," Abraham answered,
"God himself will provide the sheep for the holocaust."
Then the two continued going forward.

When they came to the place of which God had told him,
Abraham built an altar there and arranged the wood on it.
Next he tied up his son Isaac,
and put him on top of the wood on the altar.
Then he reached out and took the knife to slaughter his son.
But the LORD's messenger called to him from heaven,
"Abraham, Abraham!"
"Here I am!" he answered.
"Do not lay your hand on the boy," said the messenger.
"Do not do the least thing to him.
I know now how devoted you are to God,
since you did not withhold from me your own beloved son."
As Abraham looked about,
he spied a ram caught by its horns in the thicket.
So he went and took the ram
and offered it up as a holocaust in place of his son.
Abraham named the site Yahweh-yireh;
hence people now say, "On the mountain the LORD will see."

Again the LORD's messenger called to Abraham from heaven and said:
"I swear by myself, declares the LORD,
that because you acted as you did
in not withholding from me your beloved son,
I will bless you abundantly
and make your descendants as countless
as the stars of the sky and the sands of the seashore;
your descendants shall take possession
of the gates of their enemies,
and in your descendants all the nations of the earth shall find blessing
all this because you obeyed my command."

or Gn 22:1-2, 9a, 10-13, 15-18

God put Abraham to the test.
He called to him, "Abraham!"
"Here I am, " he replied.
Then God said:
"Take your son Isaac, your only one, whom you love,
and go to the land of Moriah.
There you shall offer him up as a holocaust
on a height that I will point out to you."

When they came to the place of which God had told him,
Abraham built an altar there and arranged the wood on it.
Then he reached out and took the knife to slaughter his son.
But the LORD's messenger called to him from heaven,
"Abraham, Abraham!"
"Here I am, " he answered.
"Do not lay your hand on the boy, " said the messenger.
"Do not do the least thing to him.
I know now how devoted you are to God,
since you did not withhold from me your own beloved son."
As Abraham looked about,
he spied a ram caught by its horns in the thicket.
So he went and took the ram
and offered it up as a holocaust in place of his son.

Again the LORD's messenger called to Abraham from heaven and said:
"I swear by myself, declares the LORD,
that because you acted as you did
in not withholding from me your beloved son,
I will bless you abundantly
and make your descendants as countless
as the stars of the sky and the sands of the seashore;
your descendants shall take possession
of the gates of their enemies,
and in your descendants all the nations of the earth shall find blessing
all this because you obeyed my command."

Responsorial Psalm Ps 16:5, 8, 9-10, 11

R. (1) You are my inheritance, O Lord.
O LORD, my allotted portion and my cup,
you it is who hold fast my lot.
I set the LORD ever before me;
with him at my right hand I shall not be disturbed.
R. You are my inheritance, O Lord.
Therefore my heart is glad and my soul rejoices,
my body, too, abides in confidence;
because you will not abandon my soul to the netherworld,
nor will you suffer your faithful one to undergo corruption.
R. You are my inheritance, O Lord.
You will show me the path to life,
fullness of joys in your presence,
the delights at your right hand forever.
R. You are my inheritance, O Lord.

Reading 3 Ex 14:15—15:1

The LORD said to Moses, "Why are you crying out to me?
Tell the Israelites to go forward.
And you, lift up your staff and, with hand outstretched over the sea,
split the sea in two,
that the Israelites may pass through it on dry land.
But I will make the Egyptians so obstinate
that they will go in after them.
Then I will receive glory through Pharaoh and all his army,
his chariots and charioteers.
The Egyptians shall know that I am the LORD,
when I receive glory through Pharaoh
and his chariots and charioteers."

The angel of God, who had been leading Israel's camp,
now moved and went around behind them.
The column of cloud also, leaving the front,
took up its place behind them,
so that it came between the camp of the Egyptians
and that of Israel.
But the cloud now became dark, and thus the night passed
without the rival camps coming any closer together
all night long.
Then Moses stretched out his hand over the sea,
and the LORD swept the sea
with a strong east wind throughout the night
and so turned it into dry land.
When the water was thus divided,
the Israelites marched into the midst of the sea on dry land,
with the water like a wall to their right and to their left.

The Egyptians followed in pursuit;
all Pharaoh's horses and chariots and charioteers went after them
right into the midst of the sea.
In the night watch just before dawn
the LORD cast through the column of the fiery cloud
upon the Egyptian force a glance that threw it into a panic;
and he so clogged their chariot wheels
that they could hardly drive.
With that the Egyptians sounded the retreat before Israel,
because the LORD was fighting for them against the Egyptians.

Then the LORD told Moses, "Stretch out your hand over the sea,
that the water may flow back upon the Egyptians,
upon their chariots and their charioteers."
So Moses stretched out his hand over the sea,
and at dawn the sea flowed back to its normal depth.
The Egyptians were fleeing head on toward the sea,
when the LORD hurled them into its midst.
As the water flowed back,
it covered the chariots and the charioteers of Pharaoh's whole army
which had followed the Israelites into the sea.
Not a single one of them escaped.
But the Israelites had marched on dry land
through the midst of the sea,
with the water like a wall to their right and to their left.
Thus the LORD saved Israel on that day
from the power of the Egyptians.
When Israel saw the Egyptians lying dead on the seashore
and beheld the great power that the LORD
had shown against the Egyptians,
they feared the LORD and believed in him and in his servant Moses.

Then Moses and the Israelites sang this song to the LORD:
I will sing to the LORD, for he is gloriously triumphant;
horse and chariot he has cast into the sea.

Responsorial Psalm Ex 15:1-2, 3-4, 5-6, 17-18

R. (1b) Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
I will sing to the LORD, for he is gloriously triumphant;
horse and chariot he has cast into the sea.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
He is my God, I praise him;
the God of my father, I extol him.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
The LORD is a warrior,
LORD is his name!
Pharaoh's chariots and army he hurled into the sea;
the elite of his officers were submerged in the Red Sea.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
The flood waters covered them,
they sank into the depths like a stone.
Your right hand, O LORD, magnificent in power,
your right hand, O LORD, has shattered the enemy.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.
You brought in the people you redeemed
and planted them on the mountain of your inheritance
the place where you made your seat, O LORD,
the sanctuary, LORD, which your hands established.
The LORD shall reign forever and ever.
R. Let us sing to the Lord; he has covered himself in glory.

Reading 4 Is 54:5-14

The One who has become your husband is your Maker;
his name is the LORD of hosts;
your redeemer is the Holy One of Israel,
called God of all the earth.
The LORD calls you back,
like a wife forsaken and grieved in spirit,
a wife married in youth and then cast off,
says your God.
For a brief moment I abandoned you,
but with great tenderness I will take you back.
In an outburst of wrath, for a moment
I hid my face from you;
but with enduring love I take pity on you,
says the LORD, your redeemer.
This is for me like the days of Noah,
when I swore that the waters of Noah
should never again deluge the earth;
so I have sworn not to be angry with you,
or to rebuke you.
Though the mountains leave their place
and the hills be shaken,
my love shall never leave you
nor my covenant of peace be shaken,
says the LORD, who has mercy on you.
O afflicted one, storm-battered and unconsoled,
I lay your pavements in carnelians,
and your foundations in sapphires;
I will make your battlements of rubies,
your gates of carbuncles,
and all your walls of precious stones.
All your children shall be taught by the LORD,
and great shall be the peace of your children.
In justice shall you be established,
far from the fear of oppression,
where destruction cannot come near you.

Responsorial Psalm Ps 30:2, 4, 5-6, 11-12, 13

R. (2a) I will praise you, Lord, for you have rescued me.
I will extol you, O LORD, for you drew me clear
and did not let my enemies rejoice over me.
O LORD, you brought me up from the netherworld;
you preserved me from among those going down into the pit.
R. I will praise you, Lord, for you have rescued me.
Sing praise to the LORD, you his faithful ones,
and give thanks to his holy name.
For his anger lasts but a moment;
a lifetime, his good will.
At nightfall, weeping enters in,
but with the dawn, rejoicing.
R. I will praise you, Lord, for you have rescued me.
Hear, O LORD, and have pity on me;
O LORD, be my helper.
You changed my mourning into dancing;
O LORD, my God, forever will I give you thanks.
R. I will praise you, Lord, for you have rescued me.

Reading 5 Is 55:1-11

Thus says the LORD:
All you who are thirsty,
come to the water!
You who have no money,
come, receive grain and eat;
come, without paying and without cost,
drink wine and milk!
Why spend your money for what is not bread,
your wages for what fails to satisfy?
Heed me, and you shall eat well,
you shall delight in rich fare.
Come to me heedfully,
listen, that you may have life.
I will renew with you the everlasting covenant,
the benefits assured to David.
As I made him a witness to the peoples,
a leader and commander of nations,
so shall you summon a nation you knew not,
and nations that knew you not shall run to you,
because of the LORD, your God,
the Holy One of Israel, who has glorified you.

Seek the LORD while he may be found,
call him while he is near.
Let the scoundrel forsake his way,
and the wicked man his thoughts;
let him turn to the LORD for mercy;
to our God, who is generous in forgiving.
For my thoughts are not your thoughts,
nor are your ways my ways, says the LORD.
As high as the heavens are above the earth,
so high are my ways above your ways
and my thoughts above your thoughts.

For just as from the heavens
the rain and snow come down
and do not return there
till they have watered the earth,
making it fertile and fruitful,
giving seed to the one who sows
and bread to the one who eats,
so shall my word be
that goes forth from my mouth;
my word shall not return to me void,
but shall do my will,
achieving the end for which I sent it.

Responsorial Psalm Is 12:2-3, 4, 5-6

R. (3) You will draw water joyfully from the springs of salvation.
God indeed is my savior;
I am confident and unafraid.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
With joy you will draw water
at the fountain of salvation.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Give thanks to the LORD, acclaim his name;
among the nations make known his deeds,
proclaim how exalted is his name.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Sing praise to the LORD for his glorious achievement;
let this be known throughout all the earth.
Shout with exultation, O city of Zion,
for great in your midst
is the Holy One of Israel!
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.

Reading 6 Bar 3:9-15, 32C4:4

Hear, O Israel, the commandments of life:
listen, and know prudence!
How is it, Israel,
that you are in the land of your foes,
grown old in a foreign land,
defiled with the dead,
accounted with those destined for the netherworld?
You have forsaken the fountain of wisdom!
Had you walked in the way of God,
you would have dwelt in enduring peace.
Learn where prudence is,
where strength, where understanding;
that you may know also
where are length of days, and life,
where light of the eyes, and peace.
Who has found the place of wisdom,
who has entered into her treasuries?

The One who knows all things knows her;
he has probed her by his knowledge.
The One who established the earth for all time,
and filled it with four-footed beasts;
he who dismisses the light, and it departs,
calls it, and it obeys him trembling;
before whom the stars at their posts
shine and rejoice;
when he calls them, they answer, "Here we are!"
shining with joy for their Maker.
Such is our God;
no other is to be compared to him:
He has traced out the whole way of understanding,
and has given her to Jacob, his servant,
to Israel, his beloved son.

Since then she has appeared on earth,
and moved among people.
She is the book of the precepts of God,
the law that endures forever;
all who cling to her will live,
but those will die who forsake her.
Turn, O Jacob, and receive her:
walk by her light toward splendor.
Give not your glory to another,
your privileges to an alien race.
Blessed are we, O Israel;
for what pleases God is known to us!

Responsorial Psalm Ps 19:8, 9, 10, 11

R. (John 6:68c) Lord, you have the words of everlasting life.
The law of the LORD is perfect,
refreshing the soul;
the decree of the LORD is trustworthy,
giving wisdom to the simple.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
The precepts of the LORD are right,
rejoicing the heart;
the command of the LORD is clear,
enlightening the eye.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
The fear of the LORD is pure,
enduring forever;
the ordinances of the LORD are true,
all of them just.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
They are more precious than gold,
than a heap of purest gold;
sweeter also than syrup
or honey from the comb.
R. Lord, you have the words of everlasting life.

Reading 7 Ez 36:16-17a, 18-28

The word of the LORD came to me, saying:
Son of man, when the house of Israel lived in their land,
they defiled it by their conduct and deeds.
Therefore I poured out my fury upon them
because of the blood that they poured out on the ground,
and because they defiled it with idols.
I scattered them among the nations,
dispersing them over foreign lands;
according to their conduct and deeds I judged them.
But when they came among the nations wherever they came,
they served to profane my holy name,
because it was said of them: "These are the people of the LORD,
yet they had to leave their land."
So I have relented because of my holy name
which the house of Israel profaned
among the nations where they came.
Therefore say to the house of Israel: Thus says the Lord GOD:
Not for your sakes do I act, house of Israel,
but for the sake of my holy name,
which you profaned among the nations to which you came.
I will prove the holiness of my great name, profaned among the nations,
in whose midst you have profaned it.
Thus the nations shall know that I am the LORD, says the Lord GOD,
when in their sight I prove my holiness through you.
For I will take you away from among the nations,
gather you from all the foreign lands,
and bring you back to your own land.
I will sprinkle clean water upon you
to cleanse you from all your impurities,
and from all your idols I will cleanse you.
I will give you a new heart and place a new spirit within you,
taking from your bodies your stony hearts
and giving you natural hearts.
I will put my spirit within you and make you live by my statutes,
careful to observe my decrees.
You shall live in the land I gave your fathers;
you shall be my people, and I will be your God.

Responsorial Psalm Ps 42:3, 5; 43:3, 4

When baptism is celebrated.

R. (42:2) Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
Athirst is my soul for God, the living God.
When shall I go and behold the face of God?
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
I went with the throng
and led them in procession to the house of God,
Amid loud cries of joy and thanksgiving,
with the multitude keeping festival.
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
Send forth your light and your fidelity;
they shall lead me on
And bring me to your holy mountain,
to your dwelling-place.
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.
Then will I go in to the altar of God,
the God of my gladness and joy;
then will I give you thanks upon the harp,
O God, my God!
R. Like a deer that longs for running streams, my soul longs for you, my God.

Or Is 12:2-3, 4bcd, 5-6

When baptism is not celebrated.

R. (3) You will draw water joyfully from the springs of salvation.
God indeed is my savior;
I am confident and unafraid.
My strength and my courage is the LORD,
and he has been my savior.
With joy you will draw water
at the fountain of salvation.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Give thanks to the LORD, acclaim his name;
among the nations make known his deeds,
proclaim how exalted is his name.
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.
Sing praise to the LORD for his glorious achievement;
let this be known throughout all the earth.
Shout with exultation, O city of Zion,
for great in your midst
is the Holy One of Israel!
R. You will draw water joyfully from the springs of salvation.

or Ps 51:12-13, 14-15, 18-19

R. (12a) Create a clean heart in me, O God.
A clean heart create for me, O God,
and a steadfast spirit renew within me.
Cast me not out from your presence,
and your Holy Spirit take not from me.
R. Create a clean heart in me, O God.
Give me back the joy of your salvation,
and a willing spirit sustain in me.
I will teach transgressors your ways,
and sinners shall return to you.
R. Create a clean heart in me, O God.
For you are not pleased with sacrifices;
should I offer a holocaust, you would not accept it.
My sacrifice, O God, is a contrite spirit;
a heart contrite and humbled, O God, you will not spurn.
R. Create a clean heart in me, O God.

Epistle Rom 6:3-11

Brothers and sisters:
Are you unaware that we who were baptized into Christ Jesus
were baptized into his death?
We were indeed buried with him through baptism into death,
so that, just as Christ was raised from the dead
by the glory of the Father,
we too might live in newness of life.

For if we have grown into union with him through a death like his,
we shall also be united with him in the resurrection.
We know that our old self was crucified with him,
so that our sinful body might be done away with,
that we might no longer be in slavery to sin.
For a dead person has been absolved from sin.
If, then, we have died with Christ,
we believe that we shall also live with him.
We know that Christ, raised from the dead, dies no more;
death no longer has power over him.
As to his death, he died to sin once and for all;
as to his life, he lives for God.
Consequently, you too must think of yourselves as being dead to sin
and living for God in Christ Jesus.

Responsorial Psalm Ps 118:1-2, 16-17, 22-23

R. Alleluia, alleluia, alleluia.
Give thanks to the LORD, for he is good,
for his mercy endures forever.
Let the house of Israel say,
"His mercy endures forever."
R. Alleluia, alleluia, alleluia.
The right hand of the LORD has struck with power;
the right hand of the LORD is exalted.
I shall not die, but live,
and declare the works of the LORD.
R. Alleluia, alleluia, alleluia.
The stone the builders rejected
has become the cornerstone.
By the LORD has this been done;
it is wonderful in our eyes.
R. Alleluia, alleluia, alleluia.

Gospel Mt 28:1-10

After the sabbath, as the first day of the week was dawning,
Mary Magdalene and the other Mary came to see the tomb.
And behold, there was a great earthquake;
for an angel of the Lord descended from heaven,
approached, rolled back the stone, and sat upon it.
His appearance was like lightning
and his clothing was white as snow.
The guards were shaken with fear of him
and became like dead men.
Then the angel said to the women in reply,
"Do not be afraid!
I know that you are seeking Jesus the crucified.
He is not here, for he has been raised just as he said.
Come and see the place where he lay.
Then go quickly and tell his disciples,
'He has been raised from the dead,
and he is going before you to Galilee;
there you will see him.'
Behold, I have told you."
Then they went away quickly from the tomb,
fearful yet overjoyed,
and ran to announce this to his disciples.
And behold, Jesus met them on their way and greeted them.
They approached, embraced his feet, and did him homage.
Then Jesus said to them, "Do not be afraid.
Go tell my brothers to go to Galilee,
and there they will see me."

Suy niệm Đàng Thánh Giá trọng thể do Đức Thánh Cha cử hành

Suy niệm Đàng Thánh Giá trọng thể do Đức Thánh Cha cử hành

 

Bài suy niệm Đàng Thánh Giá trọng thể

 Đức Thánh Cha cử hành tại Hí trường Colosseo ở Roma

 Tối Thứ Sáu Tuần Thánh 14-4-2017

 Bài suy niệm năm nay do bà giáo sư Anne-Marie Pelletier, người Pháp, chuyên gia Kinh Thánh, biên soạn. Bà năm nay 73 tuổi (1946) và là phụ nữ đầu tiên được giải thưởng Ratzinger hồi năm 2014. Bà cũng từng giảng dạy môn thần học về hôn phối tại Đại học Công Giáo Paris.

 14 chặng đường Thánh Giá được bà Pelletier suy niệm không theo thứ tự truyền thống, nhưng phản ánh những biến cố hoặc sự kiện mà tác giả cho là ý nghĩa nhất trong hành trình của Chúa Giêsu trên đường tiến về đồi Golgota.

 Dẫn nhập

 Giờ đã đến. Con đường của Chúa Giêsu trên những nẻo đường đầy bụi của miền Galilea và Giudea, gặp gỡ những thân người và con tim đau khổ, do sự cấp thiết phải loan báo Nước Trời, con đường ấy dừng lại ở đây, ngày hôm nay, trên đồi Golgota.

 Ngày hôm nay, thập giá chặn lối con đường ấy. Chúa Giêsu sẽ không đi xa hơn. Không thể đi xa hơn! Tình thương của Thiên Chúa nhận được nơi đây mức độ viên mãn, không bến bờ.

 Ngày hôm nay, tình thương của Chúa Cha, Đấng muốn mọi người được cứu rỗi nhờ Con của Ngài, đi đến cùng, tại nơi chúng ta không còn lời nói, nơi chúng ta bị ngỡ ngàng mất định hướng, nơi mà lòng đạo đức của chúng ta bị tràn ngập quá nhiều tư về Thiên Chúa. Thực vậy, tại Golgota, chính là sự sống, mặc dù những vẻ bề ngoài cho thấy ngược lại. Và đó cũng là hòa bình. Đây không còn là vương quốc của sự ác mà chúng ta quá rõ, nhưng là chiến thắng của tình thương.

 Misericordia et misera.. Lòng thương xót và người lầm than.

 Và dưới chân của cùng thập giá, là thế giới của chúng ta, với tất cả những sa ngã và đau đớn, những tiếng gọi và những nổi loạn của nó, tất cả những gì kêu lên Thiên Chúa, ngày hôm nay, từ những phần đất lầm than hoặc chiến tranh, trong các gia đình bị xâu xé, nơi các nhà tù, trên những con thuyền đầy chật người vượt biên..

 Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu lầm than trong chén mà Chúa Con uống thay cho chúng ta.

 Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu lầm than không bị mất hút trong đại dương của thời gian, nhưng được thu lại, để biến đổi trong mầu nhiệm của tình thương trong đó sự ác bị nuốt chửng.

 Đồi Golgota đó chính là lòng trung tín vô địch của Thiên Chúa đối với nhân loại. Đó là một sự khai sinh đang diễn ra ở nơi đó! Chúng ta phải dám nói rằng niềm vui Tin Mừng, Evangelii gaudium, chính là sự thật lúc ấy!

 Nếu cái nhìn của chúng ta không nhận thức chân lý ấy, thì chúng ta tiếp tục là tù nhân trong mạng lưới đau khổ và chết chóc. Và chúng ta làm cho cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trở nên vô ích.

 Kinh nguyện

 Lạy Chúa, đôi mắt chúng con u tối, làm sao đồng hành với Chúa đi xa dường ấy? ”Lòng thương xót” là tên của Chúa. Nhưng tên ấy là một sự điên rồ. Ước gì những bình cũ của tâm hồn chúng con vỡ tung. Xin chữa lành cái nhìn của chúng con để cái nhìn ấy được soi sáng nhờ Tin Mừng của Phúc Âm, trong lúc chúng con đứng dưới chân thập giá của Con Chúa. Và chúng con sẽ thể cử hành “chiều dài, chiều rộng, chiều cao” (Ep 3,18) của tình yêu Chúa Kitô, với con tim được an ủi và soi sáng rạng rỡ.

  ** Chặng thứ I: Chúa Giêsu bị kết án tử hình

 Trích tin mừng theo thánh Luca và Marcô

 Khi trời vừa sáng, Hội đồng kỳ mục của dân nhóm họp, với các thượng tế và luật sĩ. Họ dẫn Chúa Giêsu tới trước tòa án ấy (Lc 22,66). Tất cả đều tuyên bố Người đáng chết. Rồi vài người bắt đầu khạc nhổ vào Người, và khi tát vào mặt Người họ nói: ”Hãy nói tiên tri đi”. Và những người đầy tớ đánh đập người. Tiếp đến, sau khi trói Người, họ điệu Người tới dinh Quan Philatô (Mc 14, 66-66)

 Suy niệm

 Các thành viên Thượng Hội đồng Do thái không cần phải thảo luận nhiều để tuyên án. Từ lâu vụ này đã được xét xử. Ông Giêsu phải chết! Điều ấy đã là ý nghĩ của những người muốn xô đẩy Người xuống từ trên vách ngọn đồi, trong ngày mà, tại Hội đường Do thái, Chúa Giêsu mở cuốn sách và công bố những lời của sách ngôn sứ Isaia và áp dụng về Ngài (Thần Khí Chúa ngự xuống trên tôi, thánh hiến tôi.. để loan báo một năm hồng phúc của Chúa” – Lc 4,18.19)

 Và khi Người chữa lành người bất toại ở hồ tắm Betzatà, khai mạc ngày sabbat của Thiên Chúa Đấng giải thoát mọi tù nhân, thì những lời lẩm bẩm sát nhân chống lại Ngài đã được thốt lên (Ga 5,1-18).

 Và đoạn đường chót, khi Chúa lên Jerusalem nhân lễ Vượt Qua, gọng kìm đã được quyết liệt xiết lại: Ngài sẽ không thoát khỏi những kẻ thù của Ngài.

 Nhưng chúng ta cần phải có trí nhớ sâu hơn nữa. Từ Bethelhem, trong ngày Ngài sinh ra, vua Hêrôđê đã ra lệnh giết Ngài. Lưỡi gươm những quân lính của nhà vua tiếm vị đã tàn sát các hài nhi ở Bethlehem. Hồi đó Chúa Giêsu đã thoát khỏi cơn thịnh nộ của họ. Nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi. Ngài chỉ là một sinh mạng được tạm treo đó. Trong những tiếng khóc than của Rachel vì con cái của bà không còn nữa, có âm vang, qua những tiếng thổn thức, lời tiên báo đau đớn mà cụ già Simeon nói với Mẹ Maria (Xc Mt 2,16-18; Lc 2,34-35)

 Cầu nguyện

 Lạy Chúa Giêsu, là Chúa Con yêu dấu, đã đến viếng thăm chúng con, làm bao nhiêu điều thiện khi sống giữa chúng con, trả lại sự sống cho những người ở trong bóng tối sự chết, Chúa biết những con tim quanh co của chúng con.

 Chúng con tuyên bố mình là bạn của sự thiện và muốn sự sống. Nhưng thực ra chúng con là kẻ tội lỗi và đồng lõa với sự chết.

 Chúng con tuyên bố mình là môn đệ Chúa, nhưng chúng con lại đi theo những con đường xa lìa tư tưởng của Chúa, xa cách công lý và lòng từ bi của Chúa. Xin đừng bỏ mặc chúng con trong những bạo lực của chúng con. Ước gì lòng kiên nhẫn của Chúa đối với chúng con không bị cạn. Xin giải thoát chúng con khỏi sự dữ!

 ”Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho ngươi? Ta đã làm gì để ngươi buồn? Hãy trả lời Ta đi.

 ** Chặng thứ 2: Chúa Giêsu bị Phêrô chối bỏ

 Trích Tin Mừng theo thánh Luca

 Khoảng một giờ sau, một người khác nhấn mạnh rằng: ”Chắc chắn rồi, chính ông này cũng ở với hắn; hơn nữa, ông này là người xứ Galilea”. Phêrô đáp: ”Tôi không biết ông muốn nói gì”. Và ngay sau đó, khi Phêrô còn nói thì gà gáy. Chúa Giêsu quay lại, nhìn Phêrô; và Phêrô nhớ lại lời Chúa đã nói với ông trước đây: ”Ngày hôm nay, trước khi gà gáy, con đã chối Thầy 3 lần”. Phêrô đi ra ngoài, và khóc lóc cay đắng (Lc 22,59-62)

 Suy niệm

 Chung quanh đống củi cháy trong sân của Thượng Hội đồng Do thái, Phêrô và vài người khác đang sưởi trong những giờ lạnh lẽo của đêm trường, họ đi lại chờ đợi. Bên trong, số phận của Chúa Giêsu sắp được quyết định, đối diện với những kẻ cáo Ngài. Họ sắp đòi kết án tử cho Ngài.

 Như thủy triều dâng cao, sự thù nghịch cũng gia tăng chung quanh Ngài. Như sợi dây gai bén lửa cháy to, oán ghét cũng bùng cháy lên. Chẳng bao lâu đám đông la to đòi quan Philatô tha Baraba và kết án Chúa Giêsu. Thật là khó tuyên bố mình là bạn của một kẻ bị kết án tử mà không cảm thấy rùng mình. Lòng trung thành không lay chuyển của Phêrô không kháng cự nổi những lời nghi ngờ của người nữ tỳ canh cổng.

 Nhìn nhận mình là môn đệ của ông thầy người xứ Galilea, điều này đòi phải trung thành với Chúa Giêsu hơn là với mạng sống của mình! Khi lòng trung thành đòi can đảm như thế, thì sự thật khó lòng tìm được những nhân chứng.. Con người là thế nên nhiều người chẳng thà nói dối, và Phêrô cũng là con người như chúng ta. Ông đã phản bội 3 lần. Rồi ông gặp cái nhìn của Chúa Giêsu. Nước mắt của ông chảy xuống, cay đắng nhưng dịu ngọt như nước rửa sạch bợn nhơ. Chẳng bao lâu, trong vài ngày nữa, bên một đống lửa khác, bên bờ hồ, Phêrô sẽ nhận ra Chúa phục sinh, Ngài sẽ ủy thác cho ông nhiệm vụ chăm sóc các chiên của Ngài. Phêrô sẽ học được vô tận sự tha thứ mà Đấng Phục Sinh bày tỏ đối với tất cả những phản bội của chúng ta. Ông sẽ tham phần vào lòng trung thành, từ nay làm cho ông chấp nhận cái chết của mình như hy tế được kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô.

 Cầu nguyện

 Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Chúa đã muốn chính Phêrô, người môn đệ phản bội và được tha thứ, lãnh trách vụ hướng dẫn đoàn chiên Chúa. Xin ghi tạc vào lòng chúng con niềm tín thác và vui mừng được biết rằng, nơi Chúa, chúng con có thể bước qua những hố rãnh của sợ hãi và bất trung.

 Xin ban cho tất cả cac môn đệ Chúa, được Phêrô chỉ dẫn, trở thành những chứng nhân về cái nhìn của Chúa đối với những thiếu sót của chúng con. Ước gì không bao giờ những cứng cỏi hoặc thất vọng của chúng con làm cho sự sống lại của Chúa Con trở nên vô ích!

 Lạy Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, lạy Chúa Kitô sống lại cho chúng con được sống, chúng con cầu xin Chúa, xin thương xót chúng con.

 ** Chặng thứ 3: Quan Philatô

 Trích Tin Mừng theo thánh Marcô và Mathêu

 Sau khi giao nạo Người cho quan Philatô, họ gia tăng những lời cáo buộc Ngài. Quan Philatô muốn làm hài lòng đám đông, nên tha Baraba và, sau khi truyền đánh đòn Chúa Giêsu, ông giao Người cho họ để đóng đanh (Mc 15,1.3.15)

 Philatô lấy nước rửa tay trước mặt đám đông và nói: ”Tôi vô tội về máu người này; các người liệu lấy!” (Mt 27,24)

 Trích sách Isaia

 ”Tất cả chúng ta, như đoàn chiên, chúng ta lang thang, mỗi người theo con đường của mình, và Chúa đã làm cho tội lỗi chúng ta đổ xuống trên Người” (Is 53,6)

 Suy niệm

 Đế quốc Roma của Hoàng đế Cesare Augusto, quốc gia văn minh, với những binh đoàn viễn chinh đánh chiếm các dân nước, để mang lại cho họ những thiện ích trật tự công chính của mình!

 Roma cũng hiện diện trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu nơi con người của quan Philatô, đại diện hoàng đế, người bảo đảm luật pháp và công lý ở nước ngoài…

 Nhưng chính quan Philatô, người tuyên bố mình không thấy điều gì gian ác nơi Chúa Giêsu, lại là người hôm nay phê chuẩn việc kết án tử hình cho Ngài. Trong dinh quan tổng trấn nơi Chúa Giêsu bị xét xử, sự thật tỏ tường: công lý của dân ngoại không cao hơn công lý của Thượng Hội đồng Do thái!

 Chắc chắn Người Công Chính này, – vị tập trung vào mình một cách lạ thường những tư tưởng sát nhân của tâm hồn con người,- lại là vị hòa giải người Do thái với dân ngoại. Người làm điều đó trong lúc này, bằng cách là cho người Do thái và dân ngoại trở nên đồng lõa với nhau trong việc giết Chúa Giêsu.

 Tuy nhiên, sắp đến lúc Vị Công Chính này sẽ hòa giải họ một cách khác, qua Thập Giá và qua sự tha thứ, liên kết tất cả họ với nhau, Do thái và dân ngoại, cùng chữa lành họ khỏi sự hèn nhát và giải thoát họ khỏi bạo lực chung của họ.

 Một điều kiện duy nhất để tham dự vào hồng ân ấy là tuyên xưng sự vô tôi của vị Vô Tội duy nhất này, là Chiên Thiên Chúa bị sát tế vì tội lỗi trần thế, là từ bỏ sự tự mãn đang lẩm bẩm trong chúng ta: ”Tôi vô tội đối với máu người này”, điều kiện ấy là nhìn nhận tội của mình, trong niềm tín thác nơi một tình thương vô biên bao phủ tất cả chúng ta, Do thái và dân ngoại, và Thiên Chúa muốn biến tất cả mọi người, Do thái và dân ngoại, trở thành con cái của Ngài.

  Cầu nguyện

 Lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con, đứng trước Chúa Giêsu bị giao nộp và kết án, chúng con không biết làm gì hơn là chữa mình và cáo buộc người khác. Trong thời gian lâu dài, Giáo Hội của Chúa đã chất trên dân Israel của Chúa gánh nặng của sự kết án tử cho Chúa.

 Trong thời gian dài, Giáo Hội đã cố tình không biết rằng tất cả chúng con phải nhìn nhận mình đồng hòa trong tội lỗi, để tất cả được cứu rỗi nhờ máu của thập giá Chúa Giêsu.

 Xin ban cho chúng con nhận ra nơi Chúa Con vô tội, là Đấng duy nhất vô tội trong tất cả lịch sử của chúng con. Ngài đã chấp nhận trở thành ”tội lỗi vì tất cả chúng con”, để qua Ngài, Chúa có thể tìm lại chúng con, nhân loại được tái tạo trong sự vô tội trong đó Chúa đã tạo dựng nên chúng con và trong đó Chúa đã làm cho chúng con trở nên con cái Chúa.

 Lạy Thiên Chúa, là Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con?

 ** Chặng thứ 4: Chúa Giêsu vua vinh hiển

 Trích Tin Mừng theo thánh Marcô

 Quân lính đưa Người trong trong dinh… Họ mặc cho Người áo đỏ rồi, sau khi biện một vòng gai, họ đặt trên đầu Ngừơi. Họ bắt đầu chào Người: ”Chào Vua Do thái” (Mc 15,16-18).

 Trích sách Isaia

 Chẳng đẹp đẽ sáng sủa, cũng chẳng có vẻ đáng yêu, đối tượng bị người đời khinh rẻ và chê bỏ, như những người khi người ta thấy thì che mặt chẳng nhìn, Người bị khinh khi và coi rẻ. Và chúng ta cho rằng Người bị trừng phạt, bị Thiên Chúa đánh và hạ nhục (Is 53,2-4).

 Suy niệm

 Sự ác trở thành điều tầm thường. Có vô số những người nam nữ, cả trẻ em, bị bạo hành, hạ nhục, tra tấn, ám sát, dưới mọi bầu trời, trong mỗi thời đại của lịch sử.

 Không tìm kiếm sự chở che trong thân phận thần linh của Ngài, Chúa Giêsu tháp nhập vào trong dòng khổ đau kinh khủng mà con người gây ra cho đồng loại. Ngài chịu tình cảnh bị bỏ rơi của những người bị nhục nhã và quên lãng nhất. Nhưng sự đau khổ của một người vô tội có ích gì thêm cho chúng ta?

 Người ấy, một người trong chúng ta, trước tiên là Con yêu quí của Chúa Cha, Người đến để thi hành trọn vẹn công lý qua sự vâng phục của Người. Và bất chợt, mọi dấu hiệu đảo lộn. Và kìa những lời nói và cử chỉ chế nhạo của những kẻ hành hình Ngài tỏ cho chúng ta thấy một sự thật không lường – một điều nghịch lý tuyệt đối: chân lý về vương quyền đích thực, duy nhất, được biểu lộ như vương quyền của một tình thương không muốn điều gì khác hơn là thánh ý Chúa Cha và mong ước của Chúa cứu độ tất cả mọi người. ”Cha không muốn hy tế, lễ vật, vì thế con nói: Này con đến để thi hành thánh ý Cha” (Tv 40. 7-8)

 Ngài công bố giờ này của Thứ Sáu Tuần Thánh: chỉ có một vinh quang duy nhất trong trần thế này và trong đời sau, đó là nhận biết và chu toàn thánh ý Chúa Cha. Không ai trong chúng ta có thể đòi hỏi một phẩm giá cao cả hơn phẩm giá được làm con Đấng đã vâng phục cho đến chết trên thập giá vì chúng ta.

 Cầu nguyện

 Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng con, chúng con cầu xin Chúa, trong ngày Thánh hoàn tất mạc khải hôm nay: xin Chúa lật đổ những thần tượng nơi chúng con và trên thế giới của chúng con. Chúa biết quyền lực của chúng trên tâm trí chúng con.

 Xin lật đổ nơi chúng con những hình tượng dối trá của thành công và vinh quang.

 Xin phá đổ nơi chúng con những hình ảnh về một thứ Thiên Chúa theo những tư tưởng của chúng con, những hình ảnh ấy không ngừng tái xuất hiện, đó là thứ Thiên Chúa xa xăm, ngược với khuôn mặt được mạc khải trong giao ước và ngày hôm nay được biểu lộ trong Chúa Giêsu, vượt lên trên mọi tiên đoán, vượt lên trên mọi hy vọng. Ngài là Đấng chúng con tuyên xưng là ”Sự chiếu tảa rạng ngời của vinh quang Chúa” (Dt 1,3).

 Xin đưa chúng con vào trong niềm vui vĩnh cửu, làm cho chúng con được tung hô Chúa Giêsu mặc áo đỏ và đội mão gai là vua vinh quang mà thánh vịnh xướng lên: ”Hỡi các cửa hãy nâng trần lên, hãy nâng cao những cánh cửa vĩnh cửu, để vua vinh hiển ngự vào” (Tv 24,9)

 ”Hỡi các cửa hãy nâng trần lên, hãy nâng các cánh cửa đời đời lên, để vua vinh hiển ngự vào”

 ** Chặng thứ 5: Vác thập giá

 Trích sách Ai Ca

 Hỡi tất cả những ai qua đường, hãy nhìn xem có đau đớn nào bằng đớn đau đang hành hạ tôi không .. (Ac 1,12)

 Trích Thánh Vịnh 146

 Phúc ai những ai nương tựa nơi Thiên Chúa của Giacóp và đặt hy vọng nơi Chúa là Thiên Chúa của họ.. Chúa giải thoát những người bị xiềng xích, cho người mù được thấy, cho người còng được đứng thắng, Chúa bảo vệ người khách lạ, nâng đỡ kẻ mồ côi và góa bụa (Tv 146, 5..9)

 Suy niệm

 Trên con đường gồ ghề dẫn đến Golgota, Chúa Giêsu không vác thập giá như một chiến công! Ngài không hề giống những anh hùng chúng ta tưởng tượng, đè bẹp chiến thắng quân thù ác độc.

 Từng bước một, Chúa bước đi, thân thể ngày càng nặng nề và chậm chạp. Ngài đã cảm thấy thân xác bị cây gỗ khổ hình chà xát, đôi chân yếu liệt dưới sức nặng của khổ giá.

 Thế hệ này qua thế hệ khác, Giáo Hội đã suy niệm con đường này với những bước vấp ngã.

 Chúa Giêsu ngã xuống, rồi chỗi dậy, rồi ngã tiếp, Ngài tiếp tục hành trình mệt nhoài, có lẽ dưới những roi đòn của quân canh đi kèm Ngài, vì người ta vẫn ngược đãi như thế đối với những người bị kết án trên thế giới chúng ta.

 Đấng đã nâng những thân xác bị tê liệt, làm cho người phụ nữ còng lưng được đứng thẳng, đã kéo người con gái bé nhỏ của ông Giairô khỏi giường chết, đã làm cho bao nhiêu người bị đè nén được đứng thẳng, vậy mà ngày mai, Ngài ngã quỵ trên nền đất bụi bặm.

 Đấng Tối Cao ngã xuống đất.

 Chúng ta hãy ngắm nhìn Chúa Giêsu. Qua Ngài, Đấng Tối Cao dạy chúng ta rằng lạ quá, Ngài cũng là người thấp nhất, sẵn sàng xuống cùng chúng ta, ngày càng thấp nếu cần, để không một ai bị mất hút trong thẳm sâu lầm than của mình.

 Cầu nguyện

 Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Chúa xuống thẳm sâu đêm đen của chúng con, mà không đặt giới hạn cho sự tủi nhục của Chúa, vì chính trong sự tủi nhục ấy, Chúa đi tới phần đất nhiều khi vô ơn, nhiều khi bị hoang tàn, của đời sống chúng con.

 Chúng con nài xin Chúa ban cho Giáo Hội Chúa được làm chứng rằng Đất Tối Cao và Đấng thấp nhất là một khuôn mặt duy nhất nơi Chúa.

 Xin cho Giáo hội được mang Tin Mừng cho tất cả những người sa ngã: không có sự sa ngã nào có thể kéo chúng con ra khỏi lòng thương xót của Chúa. Không có sự hư mất, vực thẳm nào quá sâu đến độ Chúa không thể tìm lại được người lầm lạc.

 Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa

 ** Chặng thứ 6: Ông Simon xứ Xirênê

 Trích Tin Mừng theo thánh Luca

 Khi điệu Người đi, họ bắt được một người tên là Simon xứ Xirênê, cha của Alessandro và Rufo, từ ngoài đồng trở về nhà và họ bắt ông mang thập giá theo Chúa Giêsu (Lc 23,26)

 Trích Tin Mừng theo thánh Mathêu

 ”Khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho Chúa ăn, khát mà cho Chúa giải khát, là khách ngụ cư và đón tiếp Chúa, trần trụi mà cho Chúa mặc, bệnh tật hoặc bị cầm tù mà đến thăm Chúa?” (Mt 25,37-39)

 Suy niệm

 Chúa Giêsu lảo đảo trên đường, lưng bị thập giá nặng đè bẹp. Nhưng Người còn phải tiến bước, còn phải bước đi tiếp, vì chính đồi Golgotha, Núi Sọ khét tiếng, ở ngoài thành, mới là mục tiêu của toán lý hình đang thúc đẩy Người đi.

 Một người tình cờ đi qua đó, có đôi cánh tay lực lưỡng. Hiển nhiên, ông xa lạ đối với những biến cố hôm ấy. Ông đang trở về nhà, không biết gì về chuyện Rabbi Giêsu, khi ông bị quân canh trưng thu để vác thập giá.

 Ông biết gì về tử tội đang bị lính canh đẩy tới nơi hành hình? Ông có thể biết gì về người ”không còn hình dạng con người nữa”, như Người Tôi Tớ bị biến dạng mà Isaia đã nói tới?

 Chúng ta không được nói gì về sự ngạc nhiên của ông, và có lẽ về sự phản đối, hoặc về lòng thương xót của ông. Tin Mừng chỉ giữ lại tên của ông là Simon, người xứ Xirênê. Nhưng Tin Mừng cũng muốn truyền lại cho chúng ta tên của người xứ Libia ấy, và cử chỉ cứu giúp của ông, để dạy chúng ta rằng khi thoa dịu nỗi cơ cực của một tử tội, Ông Simon đã làm dịu bớt cơ cực của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng gặp ông trên đường trong thân phận tôi tớ, thân phận mà Ngài mang lấy vì chúng ta, vì ông, vì phần rỗi của thế giới, mà ông không biết điều đó.

 Cầu nguyện

 Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Chúa đã tỏ lộ cho chúng con thấy nơi mỗi người nghèo, trần trụi, bị giam cầm, khát nước, chính Chúa xuất hiện cho chúng con, và chính Chúa đón nhận, viếng thăm, cho y phục hoặc giải khát cho chúng con:

 ”Ta là kẻ ngoại kiều và các con đã đón tiếp Ta, trần trụi và các con đã cho Ta mặc, bệnh tật và bị cầm tù, các con đã thăm viếng Ta” (Mt 25,39)

 Mầu nhiệm cuộc gặp gỡ của Chúa với nhân loại chúng con! Chính như thế Chúa đến gặp tất cả mọi người! Không ai bị thiếu cuộc gặp gỡ ấy, nếu họ đồng ý trở thành một người có lòng xót thương.

 Chúng con dâng lên Chúa, như một lễ vật thánh, tất cả những cử chỉ tốt lành, đón tiếp, tận tụy, được thực hiện mỗi ngày trong thế giới của chúng con.

 Xin Chúa đoái nhận những cử chỉ ấy như sự thực về nhân tính của chúng con, nhân tính nói to hơn tất cả những cử chỉ loại bỏ hoặc oán ghét.

 Xin Chúa đoái thương chúc lành cho những người nam nữ có lòng cảm thương, họ chúc tụng vinh quang Chúa, dù họ chưa biết tuyên xưng danh Chúa.

 Lạy Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng con

 Lạy Chúa Kitô đã sống lại để chúng con được sống,

 Chúng con cầu xin Chúa thương xót chúng con

 ** Chặng thứ 7: các phụ nữ thành Jerusalem

 Trích Tin Mừng theo thánh Luca

 Dân chúng đông đảo đi theo Người, và các phụ nữ đấm ngực, than van cho thân của Người. Nhưng quay lại họ, Chúa Giêsu nói: ”Hỡi các phụ nữ Jerusalem, đừng khóc thương tôi, nhưng hãy khóc thương chính mình và các mình.. vì nếu người ta xử với cây xanh như thế này, thì cây khô sẽ bị xử như thế nào” (Lc 23,27-28.31).

 Suy niệm

 Những tiếng khóc mà Chúa Giêsu ủy thác cho các phụ nữ Jerusalem như một hoạt động cảm thương, những tiếng khóc ấy của các phụ nữ cũng không thiếu đối với thế giới chúng ta. Những giọt lệ âm thầm chảy xuống trên đôi má các phụ nữ. Nhưng thường đó là những giọt lệ vô hình, trong tâm hồn họ, như những giọt lệ máu mà thánh nữ Catarina thành Siena đã nói đến. Không phải vì các giọt lệ là điều thuộc về các phụ nữ như thể số phận họ là những người khóc lóc thụ động và bất lực, giữa một lịch sử mà nam giới là những người duy nhất mô tả.

 Vì những giọt lệ của họ trước tiên cũng là tất cả những giọt lệ mà họ thu thập, xa những cái nhìn và các buổi lễ, trong một thế giới có nhiều điều phải khóc than. Tiếng khóc của các em bé kinh hãi, của những người tị thương trên chiến trường gọi mẹ, những tiếng khóc cô đơn của các bệnh nhân và những người sắp qua đời trước một ngưỡng cửa bất định. Những tiếng khóc vì bối rối, chảy xuống trên khuôn mặt thế giới chúng ta được tạo thành, trong ngày đầu tiên, cho những giọt lệ vui mừng, trong niềm hoan lạc của người nam và người nữ cũng nhau. Và cả Etty Hellesum, người phụ nữ can đảm của Israel vẫn đứng thẳng trong cơn lốc của cuộc bách hại do Đức quốc xã, bà bệnh vực cho đến cùng sự tốt lành của cuộc sống, bà thì thầm vào tai chúng ta bí quyết mà bà đoán được với cuộc hành trình của bà: có những giọt lệ an ủi trên khuôn mặt của Thiên Chúa, khi Ngài khóc thương sự lầm than của con cái. Trong hỏa ngục nuốt chửng trần thế, bà dám cầu nguyện với Thiên Chúa rằng: ”Con sẽ tìm cách giúp đỡ Chúa”. Thật là một sự táo bạo rất nữ tính và rất thành linh!

 Cầu nguyện

 Lạy Chúa là Thên Chúa chúng con, ”Thiên Chúa dịu dàng và thương xót, Thiên Chúa đầy tình thương và trung tín”, xin dạy chúng con, trong những ngày hạnh phúc, không coi rẻ những giọt lệ của người nghèo đang kêu lên cùng Chúa, và đang kêu cứu với chúng con. Xin dạy chúng con không lãnh đạm bước đi gần họ. Xin dạy chúng con dám khóc với họ. Xin cũng dạy chúng con trong đêm đen của những cơ cực, cô đơn và thất vọng của chúng con nghe được lời ân phúc mà Chúa tỏ lộ cho chúng con trên núi; ”Phúc cho những người khóc lóc, vì họ sẽ được an ủi”.

 Lạy Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng con

 Lạy Chúa Kitô đã sống lại cho chúng con được sống, chúng con cầu xin Chúa, xin thương xót chúng con.

 ** Chặng thứ 8: Quần áo Người

Trích Phúc Âm theo thánh Gioan: Chúng lấy áo xống và chia làm bốn phần, mỗi người một phần . Họ lấy cả áo dài nữa. (GI 19-23) Từ sách ông Gióp: Con Người ra đi như khi Người đến. Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, Người ra đi như khi Người đến. (Gb 1,21)

 SUY NIỆM:

Thân xác bị hạ nhục của Chúa Giêsu bây giờ treo trên thập giá: Trưng bày cho người đời chê cười và nhạo báng. Thân xác Đức Giêsu đầy những vết thương và chờ đợi khổ hình cuối cùng là đóng đinh thập giá. Nói theo nhân loại, thì còn gì có thể làm được để không thêm phần vào sự nhục nhã của Người? Nhưng Chúa Thánh Thần đến để giúp chúng ta vượt thắng sự bối rối của chúng ta. Chúa Thánh Thần dạy cho chúng ta nghe ngôn ngữ của Thiên Chúa, ngôn ngữ của KENOSÍ, của sự hạ mình của Thiên Chúa để đến với chúng ta nơi chúng ta đang ở. Đó chính là thứ ngôn ngữ của Thiên Chúa mà nhà thần học chính thống Christos Yannaras đã nói hộ chúng ta như sau: Ngôn ngữ của sự lột bỏ chính mình (KENOSIS) Chúa Giêsu hài đồng trần trụi trong máng cỏ, trần trụi trong dòng sông, nhận phép rửa tội như một người đầy tớ, bị treo trên thập giá, trần trụi, như một tên tội phạm. Chính qua tất cả những điều này mà Chúa biểu lộ tình yêu của Người dành cho chúng ta Đi sâu vào mầu nhiệm ân sủng ấy, chúng ta lại có thể mở mắt ra nhìn lên thân xác bị đọa đầy của Chúa Giêsu. Lúc ấy chúng ta có thể nhận ra những điều mà con mắt chúng ta đã không thấy: sự trần trụi của Người tỏa sáng, một thứ ánh sáng huy hoàng tựa như ánh sáng phát xuất từ bộ áo của Ngài khi biến hình trên núi. Thứ ánh sáng đẩy lui mọi bóng tối. Thứ ánh sáng không thể cưỡng lại được của tình yêu hiến dâng cho đến chết.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Thiên Chúa, Chúa chúng con, chúng con xin đặt dưới mắt Chúa đám đông vô tận những người phải chịu tra tấn, đoàn người lê lết thân xác bị nhục hình, run rẩy đau khổ trước roi đòn đang giáng xuống, đang hấp hối trong những xóm nghèo bẩn thỉu hèn hạ. Hãy nhận lấy những lời than van của họ, chúng con khẩn cầu Chúa. Sự dữ đã làm cho chúng con không còn tiếng nói và phương thế cứu chữa nữa. Nhưng Chúa, Chúa biết những điều chúng con không được biết. Chúa biết tìm ra con đường giữa cảnh hỗn độn và trong cái đen tối của sự dữ. Người biết tỏa ánh sáng ngay lúc này, trong cuộc Khổ nạn của Con yêu dấu Chúa, ánh sáng sự sống phục sinh. Xin tăng cường lòng tin trong chúng con! Chúng con cũng xin đưa ra trước mặt Chúa sự điên cuồng của những kẻ tra tấn và những người ra lệnh tra tấn. Sự cuồng điên ấy cũng làm cho chúng con không thốt nên lời. Chúng con chỉ còn biết khẩn cầu lên Chúa và kêu van Chúa trong nước mắt với lời kinh mà Chúa đã dạy chúng con: Xin cứu chúng con khỏi sự dữ Lạy Cha chúng con… Lạy Chúa Ky tô đã chết vì tội lỗi chúng con Lạy Chúa Ky tô đã sống lại để cho chúng con được sống Chúng con cầu xin Chúa, xin thương xót chúng con.

 ** Chặng thứ 9: Chúng đóng đinh Người

Trích Phúc Âm theo thanh Luca: Khi đến nơi, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng với hai tên gian phi, một tên ở bên phải, một tên ở bên trái. Bấy giờ Chúa Giêsu nói: Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm. (Lc 23. 33-34) Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. (Is 53,5)

 SUY NIỆM:

Quả thật Thiên Chúa đã ở nơi không phải là chỗ của Người! Người Con yêu dấu, Đấng Thánh của Thiên Chúa, lại là thân xác treo trên cây thập giá tội tình, trưng bày cho sự hổ nhục. Hình ảnh con người khổ đau làm người đời quay mặt. Nói cho đúng, như những lần người ta quay mặt không nhìn bao nhiêu con người biến dạng khác mà chúng ta gặp trên đường đời. Ngôi Lời Thiên Chúa mà trong đó mọi sự được tạo thành, chỉ còn là một thân xác bất động và đau đớn. Sự tàn bạo của nhân loại chúng ta đã tung hoành trên thân xác ấy và đã chiến thắng. Phải Thiên Chúa đã hiện diện ở đó, nơi không phải là chỗ của Người và mặc dù thế, cũng là nơi mà chúng ta cần Người ở đó biết bao. Người đã đến, không phải để chết, nhưng là để chia sẻ với chúng ta sự sống của Người. Hãy cầm lấy. Chẳng phải Người không ngừng cống hiến sự lành bệnh cho người đau yếu, sự thứ tha cho những con tim lạc loài, chính thân mình Người cho bữa tiệc Phục Sinh. Nhưng Người lại nằm trong tay chúng ta, giữa mảnh đất đầy chết chóc và bạo lực, là những điều đang làm chúng ta sửng sốt trong tình hình thế giới hiện nay, là những điều đang âm ỉ trong con người chúng ta. Các sư huynh Tibhirine biết rất rõ điều ấy khi thêm vào lời cầu nguyện của các thầy: Hãy tước bỏ vũ khí của họỂ hay là khi van xin Hãy tước bỏ vũ khí của chúng con. Cần phải để cho tình yêu Thiên Chúa viếng thăm địa ngục của chúng ta, vìi đây là phương thế duy nhất để giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ. Cần phải để Chúa Giêsu Ky tô đem lòng yêu mến vô tận của Thiên Chúa đổ đầy con tim tội lỗi của thế giới. Cần phải có điều ấy, để một khi được hưởng nhờ sự sống của Thiên Chúa, sự chết sẽ phải lùi bước và sụp đổ, như một kẻ thù phải đối diện với kẻ mạnh hơn mình và phải tan biến vào hư không.

 CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, Chúa chúng con, xin đón nhận lời ngợi ca âm thầm của chúng con. Như những vị vua đã không thốt nên lời trước kỳ công của kẻ tôi tớ như lời tiên tri của Isaia đã mạc khải, chúng con cũng kinh ngạc sửng sốt trước Con Chiên Thiên Chúa bị sát tế cho sự sống của chúng con và của toàn thế giới. Chúng con xác tín rằng nhờ những vết thương trên thân xác Chúa, chúng con đã được lành lặn. Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Con xin nâng chén mừng ơn cứu độẨ Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn và kêu cầu thánh danh Đức Chúa (Ps 115, 12-17) Lạy Cha chúng con.. Lạy Chúa Ky tô đã chết vì tội lỗi chúng con Lạy Chúa Ky tô đã sống lại để cho chúng con được sống Chúng con cầu xin Chúa, xin thương xót chúng con.

** Chặng thứ 10: Hãy tự cứu mình đi

Trích Phúc Âm theo thánh Luca: Các thủ lãnh buông lời cười nhạo: Hắn đã cứu người khác. Thì bây giờ hãy cứu lấy mình đi, nếu quả thật hắn là Đấng Ky tô của Thiên Chúa, là Người được tuyển chọn. Bọn lính tráng cũng chế nhạo Người. Chúng nói: nếu ông là Vua Do Thái thì tự cứu lấy mình đi. Một trong hai tên gian phi bị treo thập giá cũng nhục mạ Người: Ông không phải là Đấng Ky tô sao? Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi với! (Lc 23, 35-39) Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho hòn đá này hóa bánh điẨNếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình từ đây xuống điẨVì đã có lời chép rằng :Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng gìn giữ bạnẨ(Lc 4,3 và 9-11)

 SUY NIỆM:

Chúa Giêsu có thể nào bước xuống khỏi thập giá không? Chúng ta chỉ dám hình dung câu hỏi này mà thôi. Phúc Âm đã chẳng đặt câu hỏi ấy nơi miệng những kẻ tội lỗi hay sao? Thế nhưng câu hỏi này luôn ám ảnh chúng ta, tùy theo mức độ chúng ta còn thuộc về thế giới cám dỗ mà Chúa Giêsu đã đối diện trong 40 ngày ở giữa sa mạc, là hành lang và cửa ngõ dẫn vào sứ mạng của Người Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi, hãy gieo mình từ tầng cao đền thờ xuống điẨ vì Thiên Chúa luôn gìn giữ bạn của Người.. Nhưng tùy theo mức độ mà chúng ta, những kẻ đã được rửa tội trong cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Ky tô, đang tiến bước theo Ngài trên con đường Chúa đi, các thách thức của kẻ dữ sẽ không còn hiệu lực trên chúng ta nữa. Chúng bị biến thành hư không, sự dối trá của chúng bị lật tẩy. Và thế là người ta khám phá rằng Chúa Giêsu "cần phải" kiên nhẫn và sốt sắng dạy cho những kẻ đang đi trên đường Emmaus. Chúa Giê su cần phải tự hạ vâng lời và bất lực như thế, để đến với chúng ta trong sự bất lực ở chính nơi mà chúng ta đã không vâng lời. Và chúng ta mới bắt đầu hiểu được rằng chỉ có một Thiên Chúa yếu đuối mới có thể cứu rỗi chúng ta, như mục sư Dietrich Bonhoeffer đã viết vào những tháng cuối đời trước khi bị ám sát, rằng chỉ khi nào cảm nhận được cho tới cùng quyền lực của sự dữ, ông mới có thể thâu lượm được trong cái chân lý đơn sơ và cao siêu choáng ngợp này, lời tuyên xưng lòng tin ky tô.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, Chúa chúng con, ai sẽ là người giải thoát chúng con khỏi những cạm bẫy của quyền lực thế gian? Ai sẽ giải thoát chúng con khỏi uy lực bạo tàn của sự dối trá, đang làm cho chúng con ca ngợi kẻ mạnh và xúi dục chúng con chạy theo vinh quang phù hoa giả tạo? Chỉ có Chúa mới hoán cải được con tim chúng con. Chỉ có Chúa mới khiến chúng con yêu thương được những con đường của sự khiêm hạ. Chỉ có Chúa và một mình Chúa thôi mới mạc khải cho chúng con bà chỉ có chiến thắng thực sự trong tình yêu và tất cả mọi sự khác đều là rơm rác bị gió cuốn đi, là ảo ảnh sẽ tan rã dưới chân lý của Chúa. Lạt Chúa, chúng con van xin Chúa hãy đánh tan những dối trá đang muốn ngự trị trên con tim chúng con và trên toàn thế giới. Hãy giúp chúng con biết sống theo con đường của Chúa, để thế giới nhận biết quyền năng của Thập Giá. Lạy Cha chúng conẨ.. Lạy Cha, lạy Cha, sao cha bỏ con?….

 ** Chặng thứ 11: Dưới chân Thánh giá, Mẹ Người

Trích Tin Mừng theo thánh Gioan: Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cle ô phát, cùng với bà Maria Magdala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh , Chúa Giêsu nói với thân mẫu rằng Thưa Bà, đây là con Bà. Rồi Người nói với môn đệ: Đây là Mẹ của anh. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước Bà về nhà mình. (Ga 19, 25-27)

 SUY NIỆM:

Cả Mẹ Maria nữa, Mẹ cũng đã đi đến cuối con đường. Giờ đây Mẹ đã đến cái ngày mà cụ già Simeon đã nói. Khi ấy, cụ bồng lấy hài nhi từ đôi tay run rẩy của Mẹ Maria và nhờ hồng ân cụ đã nói tiên tri những lời bí ẩn, những lời cùng nhau dệt lên bi kịch và hy vọng, đau thương và cứu chuộc. Này đây, cụ tuyên bố, trẻ này sẽ là duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu cũng sẽ còn là dấu hiệu cho người đời chống báng, và cả bà nữa một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua hồn bà, để như thế những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ hé lộ ra. (Lc 2, 34-35) Trước đó, cuộc viếng thăm của Thiên thần đã làm vang dội trong tim Mẹ Maria lời Truyền Tin không thể nào tin nổi: Thiên Chúa đã chọn Mẹ để làm nở hoa tin vui mới đã hứa với nhà Israel, điều mà mắt chưa bao giờ thấy, tai chưa bao giờ nghe. Vầ Mẹ đã chấp nhận dự phần vào chương trình cứu độ thần thiêng ấy, bắt đầu bằng cách đảo lộn thân xác Mẹ, rồi đồng hành với người Con sinh ra từ lòng Mẹ trên những con đường bất ngờ, không nhìn thấy trước được. Dọc dài những chuỗi ngày thường nhật ở Nazareth, rồi vào thời hoạt động công khai, khi phải nhường chỗ cho một gia đình khác, gia đình của các môn đệ, của những người lạ mà Chúa Giê su gọi là anh, chị, mẹ của mình, Mẹ đã gìn giữ mọi sự trong tim. Mẹ đã xếp đặt tất cả trong niềm kiên nhẫn vô hạn của lòng tin. Bây giờ là thời điểm thành toàn. Lưỡi đòng đâm sâu cạnh sườn Người con cũng xuyên qua trái tim của Mẹ. Cả Mẹ Maria cũng chìm sâu vào một lòng tin không nơi nương tựa, nơi đó Chúa Giê su sống cho đến cùng sự vâng phục Chúa Cha. Mẹ đứng đó. Mẹ không trốn chạy. Stabat Mater. Mẹ biết, đêm đen, nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa giữ lời hứa. Mẹ biết đếm tối, nhưng chắc chắn rằng Chúa Giê su là lời hứa và là sự thành toàn lời hứa đó.

 CẦU NGUYỆN:

Maria, Mẹ Thiên Chúa và một phụ nữ dòng dõi loài người, Mẹ đã sinh ra tất cả chúng con trong người Con mà Mẹ đã cho chào đời, hãy củng cố đức Tin của chúng con trong những giờ phút đen tối, dạy cho chúng con học biết tiếp tục hy vọng chống lại mọi hy vọng. Xin Mẹ gìn giữ toàn thể Giáo Hội trong một đêm vọng trung thành, như lòng trung thành chờ đợi của Mẹ, khiêm hạ ngoan ngoãn vâng theo thánh ý Chúa, đưa chúng con đến nơi mà không bao giờ chúng con dám tưởng nghĩ, giúp chúng con vượt lên trên mọi tiên đoán để góp phần vào công cuộc cứu chuộc. Lạy Cha chúng con Kính chào Nữ Vương, Mẹ thương xót, sự sống, sự âu yếm và hy vọng của chúng con, kính chào Mẹ.

 ** Chặng thứ 12: Mọi sự đã hoàn tất

Trích Phúc Âm theo thánh Gioan: Chúa Giê su nói: Ta khát. Ở đó có một bình đầy dấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy dấm buộc vào một nhành hương thảo rồi đưa lên miệng Người. Nhấp xong ít dấm, Chúa Giê su nói: Thế là đã hoàn tất. Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí. Khi đến gần Chúa Giê su, bọn lính thấy Người đã chết, chúng không đánh dập ống chân Người, nhưng một trong những người lính ấy, dùng ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu và nước chảy ra. Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực, và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. (Ga 19, 28-35)

 SUY NIỆM:

Giờ đây. Mọi sự đã hoàn tất. Sứ mệnh của Chúa Giêsu đã thành toàn. Người đã rời khỏi Chúa Cha để thực hiện sứ mạng thương xót. Sứ mạng này đã được hoàn tất với một lòng trung tín cho đến cùng của tình yêu. Tất cả đã hoàn tất, Chúa Giê su trao lại Thần Khí người trong tay Chúa Cha. Xét theo bề ngoài, thì quả thực điều hiển nhiên là dường như tất cả đã chìm đắm vào trong âm u thinh lặng của sự chết phủ xuống đồi Golgotha và trên ba cây thập giá cao vọt. Trong ngày ấy, ngày Khổ Nạn đang đi đến kết cục,đối với những ai tình cờ đi qua con đường này, họ có hiểu được điều gì khác ngoài sự thất bại của Chúa Giê su, sự sụp đổ của niềm hy vọng đã làm sôi sục lại con tim của bao nhiêu người, an ủi kẻ nghèo khó, nâng dậy người bị hạ nhục, đã làm cho các môn đệ mơ ước rằng thời đã đến, thời mà Thiên Chúa thành toàn những điều mà các tiên tri đã nói? Tất cả những điều ấy xem ra đã biến mất, đã tiêu tan, đã sụp đổ. Mặc dù thế, ở giữa bao nhiêu thất vọng, vậy mà thánh sử Gioan đã khiến đôi mắt chúng ta đăm đăm dừng lại ở một cho tiết thật nhỏ bé và nhìn nó cách thật trang trọng: nước và máu chảy ra từ cạnh sườn Đấng bị đóng đinh. Ôi ngạc nhiên thay! Vết thương do ngọn giáo của người lính mở ra đã trở thành lối ngõ để máu và nước chảy ra, để nói với chúng ta về sự sống và sự sinh ra. Sứ điệp này thật là kín đáo, nhưng đồng thời cũng thật hiển nhiên đối với những con tim còn gìn giữ một ký ức. Từ thân xác Chúa Giê su đã vọt ra một nguồn nước mà vị tiên tri đã thấy vọt ra từ Đền Thờ. Nguồn nước lớn mạnh mãi và trở thành một dòng sông hùng mạnh, đưa dòng nước chữa lành và làm đơm hoa kết trái mọi vật khi nó động chạm đến khi chảy qua. Chúa Giê su đã chẳng một ngày nọ ám chỉ rằng thân xác của Người sẽ trở thành một đền thờ mới hay sao? Và rồi Máu Giao Ước đi cùng nước. Chúa Giê su đã chẳng nói rằng Thịt và Máu Người sẽ trở thành của ăn cho sự sống vĩnh cửu đó sao?

 CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giê su, trong những ngày thánh nhật của mầu nhiệm Phục Sinh này, xin hãy canh tân trong chúng con niềm vui ngày lễ Rửa tội. Khi chiêm ngắm máu và nước vọt ra từ cạnh sườn Chúa, xin hãy dạy cho chúng con biết nhận thức rằng từ nguồn nước đó, chúng con đã được sinh ra, từ tình yêu đó, Giáo Hội của Chúa được xây dựng lên để mang niềm hy vọng mà Chúa đã gọi chúng con và gửi chúng con đi vào sẻ chia cho thế giới. Chính đây là nguồn sự sống rửa sạch hoàn vũ, chảy ra từ cạnh sườn Chúa Ky tô. Xin cho phép Rửa Tội trở thành vinh quang duy nhất của chúng ta, trong một tâm tình cám tạ tràn đầy kinh ngạc thán phục. Lạy Cha chúng con. Xứng đáng biết bao Con Chiên bị sát tế để nhận lãnh quyền năng, sự sang giàu, sự khôn ngoan, sức mạnh, vinh quang danh dự và ngợi ca từ thế kỷ nầy sang thế kỷ khác cho đến muôn đời! Amen!

** Chặng thứ 13: Thương xót

Trích Phúc Âm theo thánh Luca: Hạ xác Người xuống, ông Joseph liệm trong tấm vải gai, rồi đặt xác Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ. (Lc 23,53)

 SUY NIỆM:

Đây là những cử chỉ sốt sắng và danh dự dành cho thân xác bị xúc phạm và hạ nhục của Chúa Giê su. Bao người nam và người nữ đang đứng dưới thân thập giá Chúa. Joseph người gốc xứ Arimathie, người tốt lành và công chính, đã đến gặp Philato để xin thi hài Chúa, như thánh sử Luca ghi nhận, ông Nicodemo người viếng thăm lúc chiều tối, như thánh sử Gioan nói thêm. Và bao nhiêu là phụ nữ nhất quyết trung thành, đang đứng nhìn. Trong suy niệm của mình, Giáo Hội vẫn thường nghĩ rằng cả Đức Trinh Nữ Maria nữa cũng ở đó trong lúc ấy. Mẹ Maria, Mẹ thương xót, đang đỡ lấy trong vòng tay xác thân đã sinh ra từ lòng Mẹ và đã được Mẹ âu yếm kín đáo tháp tùng suốt bao nhiêu năm dài, như một người Mẹ luôn lo lắng cho con mình. Nhưng giờ đây, chỉ còn là một thân xác vĩ đại mà Mẹ đón nhận, cùng với niềm đau và cùng với nhận thức sự sáng tạo mới đang sinh ra đam mê tình yêu mới xuyên thấu qua con tin cua Con và của Mẹ Người. Trong cái im lặng gần như tuyệt đối sau bao ồn ào gào thét của bọn lính, bao chế nhạo xì xào của người qua đường và tiếng động của sự đóng đinh, những cử chỉ bây giờ chỉ nhuộm đầu êm ái, vuốt ve tôn trọng. Ông Joseph hạ xác xuống, thi hài buông thả trong tay ông. Ông liệm xác Người trong tấm vải gai, đặt vào trong ngôi mộ mới, đang đợi khách ở trong một ngôi vườn gần đó. Chúa Giê su đã được đoạt khỏi tay những kẻ đã giết Người. Từ nay, trong sự chết, Người đang ở giữa những kẻ dịu dàng âu yếm vầ xót thương. Cái bạo tàn của loài người sát nhân đã lùi ra rất xa. Sự dịu dàng âu yếm đã trở lại thế chỗ khổ hình. Sự dịu dàng âu yếm của Thiên Chúa và của những người  thuộc về Thiên Chúa, những con tim hiền dịu mà Chúa Giê su đã hứa ban đất đai một ngày kia cho họ. Êm ái dịu hiền của sự sáng tạo và của con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Sự dịu hiền của kết cuộc, khi mọi nước mắt sẽ được lau khô, trong khi chó sói sẽ sống chung với cừu non, bởi vì nhận thức về Thiên Chúa sẽ được ban cho mọi xác thịt trần gian. Ngợi ca Mẹ Maria. Ôi Lạy Mẹ Maria, Mẹ đừng khóc nữa: Con của Mẹ, Chúa chúng con, đang ngủ yên trong an bình. Và Thiên Chúa Cha, trong vinh quang sánh chói, mở mọi cánh cửa sự sống! Ôi lạy Mẹ Maria, hãy vui mừng hoan hỉ: Chúa Giêsu Phục Sinh đã chiến thắng cái chết. Lạy Cha chúng con! Lạy Chúa, trong an bình của Chúa, con nằm xuống và đi vào giấc ngủ. Con thức dậy: Chúa là sức mạnh bảo trì con.

 ** Chặng thứ 14: Các bà chuẩn bị dầu và thuốc thơm

Đọc Phúc Âm theo thánh Luca: Trong khi ấy, các phụ nữ đã theo Chúa Giê su từ Galilea đi theo ông Joseph; các bà nhìn ngôi mộ và xem xác Chúa được chôn táng thế nào. Rồi các bà về nhà và chuẩn bị dầu và thuốc thơm và ngày thứ bảy, các bà nghỉ lễ như luật truyền. (Lc 23, 55-56)

 SUY NIỆM:

Các phụ nữ đã trở lại. Người mà các bà đã đồng hành, đã đi theo cách dẻo dai liên tục và đầy từ tâm trên các nẻo đường Galilea, Người ấy không còn nữa. Người chỉ còn để lại cho các bà vào buổi chiều tối hôm ấy ký ức về ngôi mộ và tấm vải liệm trong đó xác Người đang an nghỉ.Ký ức nghèo hèn và quý giá của những ngày sốt sắng đã bị xóa bỏ hoàn toàn. Đơn côi và im lặng. Mặt khác, ngày thứ bảy đang đến gần, luật buộc Israel nghỉ việc, như là Thiên Chúa cũng nghỉ việc khi công cuộc sáng tại đã hoàn tất, đã thành toàn dưới sự chúc lành của Người. Đây là một sự thành toàn khác ngày hôm nay. Trong lúc này, bí ẩn và không thể thấu nhập được. Ngày thứ bảy hôm nay là ngày bất động, trong tưởng niệm tâm hồn và ký ức nhật nhòa nước mắt. Trong lúc chuẩn bị dầu và thuốc thơm để ngày mai, lúc trời vừa hừng sáng, các bà sẽ xức lên xác Người như là nghi lễ bày tỏ lòng kính trọng sau cùng. Nhưng với cử chỉ này, phải chăng các bà cũng đang chuẩn bị ướp hương thơm cho cả lòng hy vọng của các bà? Và nếu Thiên Chúa đã chuẩn bị sẵn một câu trả lời cho sự ân cần của các bà, câu trả lời mà các bà không thể nào đoán trước, hình dung hay cảm nhận được. Khám phá ra một ngôi mộ trốngẨ tin báo cho biết Người không còn ở đây nữa, bởi vì Người đã phá tung những cánh cửa của sự chết.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa, Chúa chúng con, Hãy đoái nhìn và chúc lành cho những cử chỉ của các phụ nữ đang làm vinh danh trong thế giới này những thân xác dòn mỏng mà các bà đang săn sóc với bao dịu hiền âu yếm và danh dự. Và cả chúng con nữa, chúng con đã từng đồng hành với Người trên con đường tình yêu này cho đến cùng, xin hãy giữ gìn chúng con, cùng với các phụ nữ trong Phúc Âm, trong lời cầu nguyện và trong lúc chờ đợi những gì chúng con biết sẽ được chuẩn nhận bởi sự Phục Sinh của Chúa Giêsu mà Giáo Hội đang chuẩn bị cử hành trong niềm hân hoan của đêm Phục Sinh. Lạy Cha chúng conẨ Lạy Cha kính dâng lên Cha mọi vinh quang và quyền lực từ thế kỷ này sang thế kỷ kia cho đến muôn đời! Amen!

G. Trần Đức Anh O.P và  Mai Anh dịch

THAY LÒNG ĐỔI DẠ

THAY LÒNG ĐỔI DẠ

CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM A

Tin Mừng lúc rước lá: ( Mt 21:1-11).Bài đọc 1 : ( Is 50:4-7) Bài đọc 2 : ( Pl 2:6-11). Tin Mừng: ( Mt 26: 14 – 27:66)

Chúa Nhật Lễ Lá là khởi đầu cho  một Tuần Thánh, một tuần lễ long trọng nhất trong năm Phụng vụ của Giáo Hội. Chúa nhật Lễ Lá cho chúng ta thấy một chút vinh quang thoáng qua, và qua đó lại cho chúng ta nhìn lại một cuộc kết án bất công đối với Đấng vì yêu thương nhân loại đã xuống thế gian mang thân phận con người. Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem không phải với tư cách một người chinh phục tất cả mọi thứ, nhưng với tư cách một Đấng mang Tin Mừng cứu độ trong hiền lành và khiêm tốn. Một thoáng vinh quang dẫn đến cái chết tủi nhục: Đức Giêsu tiến vào Giêrusalem với tư cách là một Đấng Mêsia để rồi chết tủi nhục trên cây thập giá.

Khi thầy trò đến gần thành Giêrusalem và tới làng Bếtphaghê, phía núi Ôliu, Đức Giêsu sai hai môn đệ và bảo: “ Các anh đi vào làng trước mặc kia, và sẽ thấy ngay một con lừa mẹ đang cột sẵn đó, có con lừa con bên cạnh. Các anh cởi dây ra và dắt về đây cho Thầy”. Các ông đắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng chúng, và Đức Giêsu cỡi lên. Một đám người rất đông lấy áo mình trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành, chặt lá mà rãi lên lối đi. Đám đông đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: “ Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng nhân danh Đức Chúa mà đến! Hoan hô trên các tầng trời.” Khi Đức Giêsu vào thành Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: “ Ông này là ai vậy?” Đám đông trả lời: “ Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê.” Một thoáng vinh quang! Đức Giêsu im lặng chấp nhận để cho người ta tung hô không phải như một vị vua trần thế mà dân Do thái mong đợi để giải phóng họ khỏi ách đô hộ của ngoại bang, nhưng là một vị vua đem tình thương và hòa bình cho tâm hồn con người.

Và cũng trong ngày lễ hôm nay, chúng ta cũng được nghe bài tường thuật về cuộc khổ nạn mà Đức Giêsu sẽ phải trải qua sau vài ngày nữa. Lòng dạ con người đổi thay! Cũng đám đông ấy, hôm nay thì tung hô chúc tụng, nhưng mấy ngày sau lại đả đảo, chống đối, hò la đòi giết Ngài; tệ hại hơn nữa, còn đánh giá Ngài không bằng một tên gian phi: “ Tha Baraba.” và  “ Đóng đinh nó vào thập giá!”  Trong số các môn đệ, người thì vì ba mươi đồng bạc mà bán đứng Thầy bằng một nụ hôn; người thì thề thốt: “ Dẫu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã.” Thế mà gà chưa gáy , ông đã ba lần chối thầy. Một vị quan có thẩm quyền, sức mạnh mà trước công lý lại hèn nhát không dám lên tiếng bênh vực dù biết rằng người đang chịu án là người vô tội… Nhưng tất cả cũng để chương trình của Thiên Chúa được thực hiện. Ôi phủ phàng thay cho lòng dạ con người!

Đức Giêsu biết trước những gì sẽ xảy đến với Ngài, nhưng Ngài đã một mình kiên cường chấp nhận tất cả những phản bội, vu oan, bịa đặt vì vâng theo thánh ý Chúa Cha. Trong vườn Giệtsimani, Đức Giêsu cũng đã có những giây phút nao núng, chùn bước. Ngài cũng đã ba lần xin với Chúa Cha nếu có thể thì cho Ngài khỏi uống chén đắng ấy, nhưng cuối cùng vì vâng theo thánh ý Chúa Cha mà Ngài đã chấp nhận tất cả. Đức Giêsu im lặng chấp nhận tất cả chỉ vì yêu thương con người. Vì muốn cứu vớt con người mà Chúa Cha đã phải để cho Con duy nhất của Ngài phải chết trên thập giá. Nhưng con đường đau khổ mà Con Ngài phải trải qua lại là con đường Chúa Cha tôn vinh Con mình.

Những con người phản bội lên án lòng thương xót của Thiên Chúa không ai khác lại chính là những người được lòng thương xót của Chúa quan tâm. Con người bội phản, vô ơn, bạc nghĩa với tình yeu của Thiên Chúa

Người Kitô hữu hôm nay không đả đảo Đức Kitô bằng những hành động như người Do thái xưa kia, nhưng gián tiếp cũng tiếp tay chống đối phản bội lại tình thương và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta chúc tụng Thiên Chúa trong nhà thờ nhưng lại sống tham lam, ích kỷ, vô cảm với tha nhân .

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Mùa Chay Năm A – LỄ LÁ

Chúa Nhật Mùa Chay Năm A

LỄ LÁ

CHÚA NHẬT 04-09-2017

Làm phép Lá:

BÀI PHÚC ÂM: Mt 21, 1-11

"Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi các ngài đến gần Giêrusalem, vào địa hạt Bếtphaghê, giáp núi Cây Dầu, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: "Các con hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các con hãy mở dây, dẫn về đây cho Thầy; và nếu có ai bảo các con điều gì, thì hãy nói: Chúa cần đến chúng, và Ngài sẽ gởi trả lại ngay". Mọi việc này xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri đã phán:

"Các ngươi hãy bảo thiếu nữ Sion rằng: Kìa vua ngươi nhân ái đến cùng ngươi, ngồi trên lừa mẹ và lừa con, là con của con vật chở đồ".

Các môn đệ ra đi và làm theo lời Chúa Giêsu dạy bảo. Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về, trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: "Hoan hô con vua Đavit! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời!"

Khi Ngài vào thành Giêrusalem, thì cả thành phố náo động và nói rằng: "Người đó là ai vậy?" Dân chúng trả lời rằng: "Người ấy là Tiên tri Giêsu, xuất thân từ Nadarét, xứ Galilêa". Đó là lời Chúa. 

THÁNH LỄ

BÀI ĐỌC I: Is 50, 4-7

"Tôi đã không giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười, nhưng tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không phải hổ thẹn; nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 21, 8-9. 17-18a. 19-20. 23-24

Đáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con? (c. 2a)

1) Bao người thấy con đều mỉa mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: "Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương". – Đáp.

2) Đứng quanh con là đàn ưng khuyển, một lũ côn đồ bao bọc lấy con. Chân tay con chúng đều chọc thủng, con có thể đếm được mọi đốt xương con. – Đáp.

3) Phần chúng thì nhìn xem con và vui vẻ, đem y phục của con chia sẻ với nhau, còn tấm áo dài, thì chúng rút thăm. Phần Ngài, lạy Chúa, xin chớ đứng xa con, ôi Đấng phù trợ con, xin kíp ra tay nâng đỡ. – Đáp.

4) Con sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em, giữa nơi công hội, con sẽ ngợi khen Người. "Chư quân là người tôn sợ Chúa, xin hãy ca khen Chúa. Toàn thể miêu duệ nhà Giacóp, hãy chúc tụng Người, hãy tôn sợ Người, hết thảy dòng giống Israel!" – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Pl 2, 6-11

"Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.

Chúa Giêsu Kitô, tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Pl 2, 8-9

Chúa Kitô vì chúng ta, đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.

BÀI THƯƠNG KHÓ: Mt 26, 14 – 27, 66 (bài dài)

Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai, tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và nói với họ: 

S. "Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?" 

C. Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người. Ngày thứ nhất tuần lễ ăn bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: 

S. "Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?" 

C. Chúa Giêsu đáp:

LM: "Các con hãy vào thành, đến với một người kia nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông".

C. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói:

LM: "Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy". 

C. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: 

S. "Thưa Thầy, có phải con không?" 

C. Người trả lời rằng:

LM: "Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người! Thà người đó đừng sinh ra thì hơn!" 

C. Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người rằng: 

S. "Thưa Thầy, có phải con chăng?" 

C. Chúa đáp:

LM: "Đúng như con nói".

C. Vậy khi mọi người còn đang ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: 

LM: "Các con hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Ta". 

C. Đoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ mà phán: 

LM: "Tất cả các con hãy uống chén này, vì này là Máu Ta, Máu Tân Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Thầy bảo các con: Từ nay, Thầy sẽ không còn uống chất nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống rượu mới cùng các con trong nước Cha Thầy".

C. Sau khi hát thánh vịnh, Thầy trò liền lên núi Ôliu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông:

LM: "Tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy trong chính đêm nay, vì có lời chép rằng: 'Ta sẽ đánh chủ chăn, và các chiên trong đoàn sẽ tan tác'. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con". 

C. Phêrô liền thưa: 

S. "Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, riêng con, con sẽ không bao giờ vấp phạm". 

C. Chúa Giêsu đáp:

LM: "Thầy bảo thật con, chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần". 

C. Phêrô lại thưa: 

S. "Dù có phải chết cùng Thầy, con sẽ không chối Thầy". 

C. Và tất cả các môn đệ cùng nói như vậy.

Rồi Chúa Giêsu cùng đi với các ông đến một chỗ gọi là Ghếtsêmani, và Người bảo các môn đệ:

LM: "Các con hãy ngồi đây để Thầy đến đàng kia cầu nguyện". 

C. Đoạn Chúa đưa Phêrô và hai người con ông Giêbêđê cùng đi, Người bắt đầu cảm thấy buồn bực và sầu não. Lúc ấy, Người bảo các ông:

LM: "Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết được; các con hãy ở lại đây và thức với Thầy". 

C. Tiến xa hơn một chút, Người sấp mặt xuống, cầu nguyện và nói:

LM: "Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi chén này! Nhưng đừng như ý Con muốn, một theo ý Cha muốn". 

C. Người trở lại cùng các môn đệ và thấy các ông đang ngủ, liền nói với Phêrô: 

LM: "Chẳng lẽ các con không thức cùng Thầy được lấy một giờ ư? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi lâm cơn cám dỗ: vì tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu đuối". 

C. Rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai mà rằng:

LM: "Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà Con phải uống, thì xin theo ý Cha". 

C. Đoạn Người trở lại và thấy các ông còn ngủ, vì mắt các ông nặng trĩu. Người để mặc các ông và đi cầu nguyện lần thứ ba, vẫn lại những lời như trước. Sau đó Người trở lại với các môn đệ và bảo: 

LM: "Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi! Này sắp đến giờ Con Người sẽ bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Các con hãy chỗi dậy. Chúng ta hãy đi: này kẻ nộp Thầy đã tới gần". 

C. Người còn đang nói, thì đây, Giuđa, một trong nhóm mười hai, và cùng với y có lũ đông mang gươm giáo gậy gộc, do các thượng tế và kỳ lão trong dân sai đến. Vậy tên nội công đã dặn họ ám hiệu này:

S. "Hễ tôi hôn người nào, thì đó chính là Người, các ông hãy bắt lấy". 

C. Tức khắc Giuđa tới gần Chúa Giêsu và nói: 

S. "Chào Thầy". 

C. Và nó hôn Người. Nhưng Chúa Giêsu bảo:

LM: "Hỡi bạn, bạn đến đây làm chi?" 

C. Lúc đó chúng xông tới, tra tay bắt Chúa Giêsu. Ngay sau đó, một trong những người vẫn theo Chúa Giêsu, giơ tay rút gươm và chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu liền bảo:

LM: "Con hãy xỏ ngay gươm vào bao: vì tất cả những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Nào con tưởng rằng Thầy không thể xin Cha Thầy và Ngài sẽ tức khắc gởi đến hơn mười hai cơ binh thiên thần sao? Mà như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh bảo: Sự thế phải như vậy?" 

C. Lúc đó Chúa Giêsu nói cùng đám đông rằng:

LM: "Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ, giữa các ngươi, mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng tất cả sự đó xảy ra là để ứng nghiệm lời các tiên tri đã chép". 

C. Bấy giờ các môn đệ bỏ Người và chạy trốn hết.

Những kẻ đã bắt Chúa Giêsu điệu Người đến thầy thượng tế Caipha. Nơi đây các luật sĩ và kỳ lão đã hội họp. Phêrô theo Người xa xa cho tới dinh thầy thượng tế. Rồi ông vào trong dinh ngồi cùng bọn đầy tớ, xem việc xảy ra thế nào. Vậy các thượng tế và tất cả công nghị tìm chứng gian cáo Chúa Giêsu để lên án xử tử Người. Và họ đã không tìm được, mặc dù đã có một số đông chứng nhân ra mắt. Sau cùng, hai người làm chứng gian đến khai rằng: 

S. "Người này đã nóiTa có thể phá đền thờ Thiên Chúa và xây cất lại trong ba ngày". 

C. Bấy giờ thầy thượng tế đứng lên nói: 

S. "Ông không trả lời gì về các điều những người này đã cáo ông ư?" 

C. Nhưng Chúa Giêsu làm thinh, nên thầy thượng tế bảo Người: 

S. "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, ta truyền cho ông hãy nói cho chúng ta biếtÔng có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không?" 

C. Chúa Giêsu trả lời:

LM: "Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói thật với các ông: rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, và sẽ đến trên đám mây". 

C. Bấy giờ thầy thượng tế xé áo mình ra và nói: 

S. "Nó đã nói lộng ngôn! Chúng ta còn cần gì đến nhân chứng nữa? Đây các ngài vừa nghe lời lộng ngôn. Các ngài nghĩ sao?" 

C. Họ đáp lại: 

S. "Nó đáng chết!" 

C. Bấy giờ chúng nhổ vào mặt Người, đấm đánh Người, lại có kẻ tát vả Người mà nói rằng: 

S. "Hỡi Kitô, hãy bói xem, ai đánh ông đó?" 

C. Còn Phêrô ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ gái lại gần và nói: 

S. "Ông nữa, ông cũng đã theo Giêsu người xứ Galilêa". 

C. Nhưng ông chối trước mặt mọi người mà rằng: 

S. "Tôi không hiểu chị muốn nói gì?" 

C. Khi ông lui ra đến cổng, một đầy tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: 

S. "Ông này cũng theo Giêsu người Nadarét". 

C. Ông thề mà chối rằng: 

S. "Tôi không biết người ấy". 

C. Một lúc sau, mấy người đứng đó lại gần mà nói với Phêrô rằng: 

S. "Đúng rồi, ngươi cũng thuộc bọn ấy. Vì chính giọng nói của ngươi tiết lộ tông tích ngươi". 

C. Bấy giờ ông rủa mà thề rằng: ông không hề biết người ấy. Tức thì gà gáy. Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói: "Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần", và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.

Trời vừa sáng, các thượng tế và kỳ lão trong dân hội họp bày mưu giết Chúa Giêsu. Họ trói Người và điệu đi nộp cho tổng trấn Phongxiô Philatô. Bấy giờ Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận, đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ lão mà nói rằng: 

S. "Tôi đã phạm tội vì nộp máu người công chính". 

C. Nhưng họ trả lời: 

S. "Can chi đến chúng tôi! Mặc kệ anh!" 

C. Anh ta ném những đồng bạc đó vào trong đền thờ và ra đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy bạc đó và nói: 

S. "Không nên để bạc này vào kho vì là giá máu". 

C. Sau khi bàn bạc, họ lấy tiền đó mua thửa ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất những người ngoại kiều. Bởi thế, ruộng ấy cho đến ngày nay được gọi là Haselđama, nghĩa là ruộng máu. Như vậy là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia nói: "Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là giá do con cái Israel đã mặc cả mà bán Đấng cao trọng. Và họ mang tiền đó mua ruộng của người thợ gốm như lời Chúa đã truyền cho tôi".

Vậy Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn, và quan hỏi Người rằng: 

S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?" 

C. Chúa Giêsu đáp:

LM: "Ông nói đúng!" 

C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người:

S. "Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?" 

C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: 

S. "Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?" 

C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: 

S. "Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy"

C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: 

S. "Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?" 

C. Họ thưa: 

S. "Baraba!" 

C. Philatô hỏi: 

S. "Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?" 

C. Họ đồng thanh đáp: 

S. "Đóng đinh nó đi!" 

C. Quan lại hỏi: 

S. "Nhưng người này đã làm gì nên tội?" 

C. Chúng càng la to: 

S. "Đóng đinh nó đi!" 

C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: 

S. "Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi". 

C. Toàn dân đáp: 

S. "Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi". 

C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: 

S. "Tâu vua dân Do-thái!" 

C. Đoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.

Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: "Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm". Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả.

Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói: 

S. "Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!" 

C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: 

S. "Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói"Ta là Con Thiên Chúa!" 

C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: 
LM: "Eli, Eli, lema sabachtani!" 

C. Nghĩa là: 

LM: "Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!" 

C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng: 

S. "Nó gọi tiên tri Elia". 

C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: 

S. "Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?" 

C. Đoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: 

S. "Đúng người này là Con Thiên Chúa". 

C. Ở đó cũng có nhiều phụ nữ đứng xa xa; họ là những người đã theo giúp Chúa Giêsu từ xứ Galilêa. Trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và mẹ các người con của Giêbêđê.

Tới chiều có một người giàu sang quê ở Arimathia tên là Giuse, cũng đã làm môn đệ Chúa Giêsu, ông đi gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Bấy giờ Philatô truyền giao xác cho ông. Vậy ông Giuse lấy xác, liệm trong một khăn sạch, và đặt trong mồ mà ông đã cho đục trong đá, rồi ông lăn một tảng đá lớn lấp cửa mồ lại và ra về. Còn Maria Mađalêna và bà Maria kia cùng ngồi đó nhìn vào mộ.

Hôm sau, tức là sau ngày chuẩn bị mừng lễ, các thượng tế và biệt phái đến dinh Philatô trình rằng: 

S. "Thưa ngài, chúng tôi nhớ, lúc sinh thời tên bịp bợm ấy có nói'Sau ba ngày, Ta sẽ sống lại'. Vậy xin ngài truyền lệnh cho canh mộ đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ nó lấy trộm xác rồi phao đồn với dân chúng rằng:Người đã từ cõi chết sống lại! Và như thế, sự gian dối này lại còn tai hại hơn trước". 

C. Philatô trả lời: 

S. "Các ông đã có lính canh thì cứ đi mà canh như ý". 

C. Họ liền đi và đóng ấn niêm phong tảng đá và cắt lính canh giữ mồ. Đó là lời Chúa.

_________________________

Hoặc đọc bài vắn nàyMt 27, 11-54

C. Khi ấy, Chúa Giêsu đứng trước tổng trấn †Phongxiô Phi-latô, và quan hỏi Người rằng: 

S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?" 

C. Chúa Giêsu đáp: 

LM: "Ông nói đúng!" 

C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người:

S. "Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?" 

C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: 

S. "Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?" 

C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: 

S. "Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy,vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy". 

C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: 

S. "Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?" 

C. Họ thưa: 

S. "Baraba!" 

C. Philatô hỏi: 

S. "Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?" 

C. Họ đồng thanh đáp: 

S. "Đóng đinh nó đi!" 

C. Quan lại hỏi: 

S. "Nhưng người này đã làm gì nên tội?" 

C. Chúng càng la to: 

S. "Đóng đinh nó đi!" 

C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói:S. "Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi". 

C. Toàn dân đáp: 

S. "Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi". 

C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: 

S. "Tâu vua dân Do-thái!" 

C. Đoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.

Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: "Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm". Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: "Người này là Giêsu, vua dân Do-thái". Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả.

Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói: 

S. "Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!" 

C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: 

S. "Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói"Ta là Con Thiên Chúa!" 

C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng:

LM: "Eli, Eli, lamma sabachtani!" 

C. Nghĩa là:

LM: "Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!" 

C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng: 

S. "Nó gọi tiên tri Elia". 

C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: 

S. "Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?" 

C. Đoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: 

S. "Đúng người này là Con Thiên Chúa".

Đó là lời Chúa.

Palm Sunday of the Lord's Passion

SUNDAY 04-09-2017

At the Procession with Palms —  Gospel Mt 21:1-11

When Jesus and the disciples drew near Jerusalem
and came to Bethphage on the Mount of Olives,
Jesus sent two disciples, saying to them,
"Go into the village opposite you,
and immediately you will find an ass tethered,
and a colt with her.
Untie them and bring them here to me.
And if anyone should say anything to you, reply,
'The master has need of them.'
Then he will send them at once."
This happened so that what had been spoken through the prophet
might be fulfilled:
Say to daughter Zion,
"Behold, your king comes to you,
meek and riding on an ass,
and on a colt, the foal of a beast of burden."

The disciples went and did as Jesus had ordered them.
They brought the ass and the colt and laid their cloaks over them,
and he sat upon them.
The very large crowd spread their cloaks on the road,
while others cut branches from the trees
and strewed them on the road.
The crowds preceding him and those following
kept crying out and saying:
"Hosanna to the Son of David;
blessed is he who comes in the name of the Lord;
hosanna in the highest."
And when he entered Jerusalem
the whole city was shaken and asked, "Who is this?"
And the crowds replied,
"This is Jesus the prophet, from Nazareth in Galilee."

At the Mass — Reading 1 Is 50:4-7

The Lord GOD has given me
a well-trained tongue,
that I might know how to speak to the weary
a word that will rouse them.
Morning after morning
he opens my ear that I may hear;
and I have not rebelled,
have not turned back.
I gave my back to those who beat me,
my cheeks to those who plucked my beard;
my face I did not shield
from buffets and spitting.

The Lord GOD is my help,
therefore I am not disgraced;
I have set my face like flint,
knowing that I shall not be put to shame.

Responsorial Psalm Ps 22:8-9, 17-18, 19-20, 23-24

R. (2a) My God, my God, why have you abandoned me?
All who see me scoff at me;
they mock me with parted lips, they wag their heads:
"He relied on the LORD; let him deliver him,
let him rescue him, if he loves him."
R. My God, my God, why have you abandoned me?
Indeed, many dogs surround me,
a pack of evildoers closes in upon me;
They have pierced my hands and my feet;
I can count all my bones.
R. My God, my God, why have you abandoned me?
They divide my garments among them,
and for my vesture they cast lots.
But you, O LORD, be not far from me;
O my help, hasten to aid me.
R. My God, my God, why have you abandoned me?
I will proclaim your name to my brethren;
in the midst of the assembly I will praise you:
"You who fear the LORD, praise him;
all you descendants of Jacob, give glory to him;
revere him, all you descendants of Israel!"
R. My God, my God, why have you abandoned me?

Reading 2 Phil 2:6-11

Christ Jesus, though he was in the form of God,
did not regard equality with God
something to be grasped.
Rather, he emptied himself,
taking the form of a slave,
coming in human likeness;
and found human in appearance,
he humbled himself,
becoming obedient to the point of death,
even death on a cross.
Because of this, God greatly exalted him
and bestowed on him the name
which is above every name,
that at the name of Jesus
every knee should bend,
of those in heaven and on earth and under the earth,
and every tongue confess that
Jesus Christ is Lord,
to the glory of God the Father.

Verse Before the Gospel Phil 2:8-9

Christ became obedient to the point of death,
even death on a cross.
Because of this, God greatly exalted him
and bestowed on him the name which is above every name.

Gospel Mt 26:14—27:66

One of the Twelve, who was called Judas Iscariot,
went to the chief priests and said,
"What are you willing to give me
if I hand him over to you?"
They paid him thirty pieces of silver,
and from that time on he looked for an opportunity
to hand him over.

On the first day of the Feast of Unleavened Bread,
the disciples approached Jesus and said,
"Where do you want us to prepare
for you to eat the Passover?"
He said,
"Go into the city to a certain man and tell him,
'The teacher says, "My appointed time draws near;
in your house I shall celebrate the Passover with my disciples."'"
The disciples then did as Jesus had ordered,
and prepared the Passover.

When it was evening,
he reclined at table with the Twelve.
And while they were eating, he said,
"Amen, I say to you, one of you will betray me."
Deeply distressed at this,
they began to say to him one after another,
"Surely it is not I, Lord?"
He said in reply,
"He who has dipped his hand into the dish with me
is the one who will betray me.
The Son of Man indeed goes, as it is written of him,
but woe to that man by whom the Son of Man is betrayed.
It would be better for that man if he had never been born."
Then Judas, his betrayer, said in reply,
"Surely it is not I, Rabbi?"
He answered, "You have said so."

While they were eating,
Jesus took bread, said the blessing,
broke it, and giving it to his disciples said,
"Take and eat; this is my body."
Then he took a cup, gave thanks, and gave it to them, saying,
"Drink from it, all of you,
for this is my blood of the covenant,
which will be shed on behalf of many
for the forgiveness of sins.
I tell you, from now on I shall not drink this fruit of the vine
until the day when I drink it with you new
in the kingdom of my Father."
Then, after singing a hymn,
they went out to the Mount of Olives.

Then Jesus said to them,
"This night all of you will have your faith in me shaken,
for it is written:
I will strike the shepherd,
and the sheep of the flock will be dispersed;

but after I have been raised up,
I shall go before you to Galilee."
Peter said to him in reply,
"Though all may have their faith in you shaken,
mine will never be."
Jesus said to him,
"Amen, I say to you,
this very night before the cock crows,
you will deny me three times."
Peter said to him,
"Even though I should have to die with you,
I will not deny you."
And all the disciples spoke likewise.

Then Jesus came with them to a place called Gethsemane,
and he said to his disciples,
"Sit here while I go over there and pray."
He took along Peter and the two sons of Zebedee,
and began to feel sorrow and distress.
Then he said to them,
"My soul is sorrowful even to death.
Remain here and keep watch with me."
He advanced a little and fell prostrate in prayer, saying,
"My Father, if it is possible,
let this cup pass from me;
yet, not as I will, but as you will."
When he returned to his disciples he found them asleep.
He said to Peter,
"So you could not keep watch with me for one hour?
Watch and pray that you may not undergo the test.
The spirit is willing, but the flesh is weak."
Withdrawing a second time, he prayed again,
"My Father, if it is not possible that this cup pass
without my drinking it, your will be done!"
Then he returned once more and found them asleep,
for they could not keep their eyes open.
He left them and withdrew again and prayed a third time,
saying the same thing again.
Then he returned to his disciples and said to them,
"Are you still sleeping and taking your rest?
Behold, the hour is at hand
when the Son of Man is to be handed over to sinners.
Get up, let us go.
Look, my betrayer is at hand."

While he was still speaking,
Judas, one of the Twelve, arrived,
accompanied by a large crowd, with swords and clubs,
who had come from the chief priests and the elders
of the people.
His betrayer had arranged a sign with them, saying,
"The man I shall kiss is the one; arrest him."
Immediately he went over to Jesus and said,
"Hail, Rabbi!" and he kissed him.
Jesus answered him,
"Friend, do what you have come for."
Then stepping forward they laid hands on Jesus and arrested him.
And behold, one of those who accompanied Jesus
put his hand to his sword, drew it,
and struck the high priest's servant, cutting off his ear.
Then Jesus said to him,
"Put your sword back into its sheath,
for all who take the sword will perish by the sword.
Do you think that I cannot call upon my Father
and he will not provide me at this moment
with more than twelve legions of angels?
But then how would the Scriptures be fulfilled
which say that it must come to pass in this way?"
At that hour Jesus said to the crowds,
"Have you come out as against a robber,
with swords and clubs to seize me?
Day after day I sat teaching in the temple area,
yet you did not arrest me.
But all this has come to pass
that the writings of the prophets may be fulfilled."
Then all the disciples left him and fled.

Those who had arrested Jesus led him away
to Caiaphas the high priest,
where the scribes and the elders were assembled.
Peter was following him at a distance
as far as the high priest's courtyard,
and going inside he sat down with the servants
to see the outcome.
The chief priests and the entire Sanhedrin
kept trying to obtain false testimony against Jesus
in order to put him to death,
but they found none,
though many false witnesses came forward.
Finally two came forward who stated,
"This man said, 'I can destroy the temple of God
and within three days rebuild it.'"
The high priest rose and addressed him,
"Have you no answer?
What are these men testifying against you?"
But Jesus was silent.
Then the high priest said to him,
"I order you to tell us under oath before the living God
whether you are the Christ, the Son of God."
Jesus said to him in reply,
"You have said so.
But I tell you:
From now on you will see 'the Son of Man
seated at the right hand of the Power'
and 'coming on the clouds of heaven.'"
Then the high priest tore his robes and said,
"He has blasphemed!
What further need have we of witnesses?
You have now heard the blasphemy;
what is your opinion?"
They said in reply,
"He deserves to die!"
Then they spat in his face and struck him,
while some slapped him, saying,
"Prophesy for us, Christ: who is it that struck you?"

Now Peter was sitting outside in the courtyard.
One of the maids came over to him and said,
"You too were with Jesus the Galilean."
But he denied it in front of everyone, saying,
"I do not know what you are talking about!"
As he went out to the gate, another girl saw him
and said to those who were there,
"This man was with Jesus the Nazorean."
Again he denied it with an oath,
"I do not know the man!"
A little later the bystanders came over and said to Peter,
"Surely you too are one of them;
even your speech gives you away."
At that he began to curse and to swear,
"I do not know the man."
And immediately a cock crowed.
Then Peter remembered the word that Jesus had spoken:
"Before the cock crows you will deny me three times."
He went out and began to weep bitterly.

When it was morning,
all the chief priests and the elders of the people
took counsel against Jesus to put him to death.
They bound him, led him away,
and handed him over to Pilate, the governor.

Then Judas, his betrayer, seeing that Jesus had been condemned,
deeply regretted what he had done.
He returned the thirty pieces of silver
to the chief priests and elders, saying,
"I have sinned in betraying innocent blood."
They said,
"What is that to us?
Look to it yourself."
Flinging the money into the temple,
he departed and went off and hanged himself.
The chief priests gathered up the money, but said,
"It is not lawful to deposit this in the temple treasury,
for it is the price of blood."
After consultation, they used it to buy the potter's field
as a burial place for foreigners.
That is why that field even today is called the Field of Blood.
Then was fulfilled what had been said through Jeremiah
the prophet,
And they took the thirty pieces of silver,
the value of a man with a price on his head,
a price set by some of the Israelites,
and they paid it out for the potter's field
just as the Lord had commanded me.

Now Jesus stood before the governor, and he questioned him,
"Are you the king of the Jews?"
Jesus said, "You say so."
And when he was accused by the chief priests and elders,
he made no answer.
Then Pilate said to him,
"Do you not hear how many things they are testifying against you?"
But he did not answer him one word,
so that the governor was greatly amazed.

Now on the occasion of the feast
the governor was accustomed to release to the crowd
one prisoner whom they wished.
And at that time they had a notorious prisoner called Barabbas.
So when they had assembled, Pilate said to them,
"Which one do you want me to release to you,
Barabbas, or Jesus called Christ?"
For he knew that it was out of envy
that they had handed him over.
While he was still seated on the bench,
his wife sent him a message,
"Have nothing to do with that righteous man.
I suffered much in a dream today because of him."
The chief priests and the elders persuaded the crowds
to ask for Barabbas but to destroy Jesus.
The governor said to them in reply,
"Which of the two do you want me to release to you?"
They answered, "Barabbas!"
Pilate said to them,
"Then what shall I do with Jesus called Christ?"
They all said,
"Let him be crucified!"
But he said,
"Why? What evil has he done?"
They only shouted the louder,
"Let him be crucified!"
When Pilate saw that he was not succeeding at all,
but that a riot was breaking out instead,
he took water and washed his hands in the sight of the crowd,
saying, "I am innocent of this man's blood.
Look to it yourselves."
And the whole people said in reply,
"His blood be upon us and upon our children."
Then he released Barabbas to them,
but after he had Jesus scourged,
he handed him over to be crucified.

Then the soldiers of the governor took Jesus inside the praetorium
and gathered the whole cohort around him.
They stripped off his clothes
and threw a scarlet military cloak about him.
Weaving a crown out of thorns, they placed it on his head,
and a reed in his right hand.
And kneeling before him, they mocked him, saying,
"Hail, King of the Jews!"
They spat upon him and took the reed
and kept striking him on the head.
And when they had mocked him,
they stripped him of the cloak,
dressed him in his own clothes,
and led him off to crucify him.

As they were going out, they met a Cyrenian named Simon;
this man they pressed into service
to carry his cross.

And when they came to a place called Golgotha
—which means Place of the Skull —,
they gave Jesus wine to drink mixed with gall.
But when he had tasted it, he refused to drink.
After they had crucified him,
they divided his garments by casting lots;
then they sat down and kept watch over him there.
And they placed over his head the written charge against him:
This is Jesus, the King of the Jews.
Two revolutionaries were crucified with him,
one on his right and the other on his left.
Those passing by reviled him, shaking their heads and saying,
"You who would destroy the temple and rebuild it in three days,
save yourself, if you are the Son of God,
and come down from the cross!"
Likewise the chief priests with the scribes and elders mocked him and said,
"He saved others; he cannot save himself.
So he is the king of Israel!
Let him come down from the cross now,
and we will believe in him.
He trusted in God;
let him deliver him now if he wants him.
For he said, 'I am the Son of God.'"
The revolutionaries who were crucified with him
also kept abusing him in the same way.

From noon onward, darkness came over the whole land
until three in the afternoon.
And about three o'clock Jesus cried out in a loud voice,
"Eli, Eli, lema sabachthani?"
which means, "My God, my God, why have you forsaken me?"
Some of the bystanders who heard it said,
"This one is calling for Elijah."
Immediately one of them ran to get a sponge;
he soaked it in wine, and putting it on a reed,
gave it to him to drink.
But the rest said,
"Wait, let us see if Elijah comes to save him."
But Jesus cried out again in a loud voice,
and gave up his spirit.

Here all kneel and pause for a short time.

And behold, the veil of the sanctuary
was torn in two from top to bottom.
The earth quaked, rocks were split, tombs were opened,
and the bodies of many saints who had fallen asleep were raised.
And coming forth from their tombs after his resurrection,
they entered the holy city and appeared to many.
The centurion and the men with him who were keeping watch over Jesus
feared greatly when they saw the earthquake
and all that was happening, and they said,
"Truly, this was the Son of God!"
There were many women there, looking on from a distance,
who had followed Jesus from Galilee, ministering to him.
Among them were Mary Magdalene and Mary the mother of James and Joseph,
and the mother of the sons of Zebedee.

When it was evening,
there came a rich man from Arimathea named Joseph,
who was himself a disciple of Jesus.
He went to Pilate and asked for the body of Jesus;
then Pilate ordered it to be handed over.
Taking the body, Joseph wrapped it in clean linen
and laid it in his new tomb that he had hewn in the rock.
Then he rolled a huge stone across the entrance to the tomb
and departed.
But Mary Magdalene and the other Mary
remained sitting there, facing the tomb.

The next day, the one following the day of preparation,
the chief priests and the Pharisees
gathered before Pilate and said,
"Sir, we remember that this impostor while still alive said,
'After three days I will be raised up.'
Give orders, then, that the grave be secured until the third day,
lest his disciples come and steal him and say to the people,
'He has been raised from the dead.'
This last imposture would be worse than the first."
Pilate said to them,
"The guard is yours;
go, secure it as best you can."
So they went and secured the tomb
by fixing a seal to the stone and setting the guard.

or Mt 27:11-54

Jesus stood before the governor, Pontius Pilate, who questioned him,
"Are you the king of the Jews?"
Jesus said, "You say so."
And when he was accused by the chief priests and elders,
he made no answer.
Then Pilate said to him,
"Do you not hear how many things they are testifying against you?"
But he did not answer him one word,
so that the governor was greatly amazed.

Now on the occasion of the feast
the governor was accustomed to release to the crowd
one prisoner whom they wished.
And at that time they had a notorious prisoner called Barabbas.
So when they had assembled, Pilate said to them,
"Which one do you want me to release to you,
Barabbas, or Jesus called Christ?"
For he knew that it was out of envy
that they had handed him over.
While he was still seated on the bench,
his wife sent him a message,
"Have nothing to do with that righteous man.
I suffered much in a dream today because of him."
The chief priests and the elders persuaded the crowds
to ask for Barabbas but to destroy Jesus.
The governor said to them in reply,
"Which of the two do you want me to release to you?"
They answered, "Barabbas!"
Pilate said to them,
"Then what shall I do with Jesus called Christ?"
They all said,
"Let him be crucified!"
But he said,
"Why? What evil has he done?"
They only shouted the louder,
"Let him be crucified!"
When Pilate saw that he was not succeeding at all,
but that a riot was breaking out instead,
he took water and washed his hands in the sight of the crowd,
saying, "I am innocent of this man's blood.
Look to it yourselves."
And the whole people said in reply,
"His blood be upon us and upon our children."
Then he released Barabbas to them,
but after he had Jesus scourged,
he handed him over to be crucified.

Then the soldiers of the governor took Jesus inside the praetorium
and gathered the whole cohort around him.
They stripped off his clothes
and threw a scarlet military cloak about him.
Weaving a crown out of thorns, they placed it on his head,
and a reed in his right hand.
And kneeling before him, they mocked him, saying,
"Hail, King of the Jews!"
They spat upon him and took the reed
and kept striking him on the head.
And when they had mocked him,
they stripped him of the cloak,
dressed him in his own clothes,
and led him off to crucify him.

As they were going out, they met a Cyrenian named Simon;
this man they pressed into service
to carry his cross.

And when they came to a place called Golgotha
— which means Place of the Skull —,
they gave Jesus wine to drink mixed with gall.
But when he had tasted it, he refused to drink.
After they had crucified him,
they divided his garments by casting lots;
then they sat down and kept watch over him there.
And they placed over his head the written charge against him:
This is Jesus, the King of the Jews.
Two revolutionaries were crucified with him,
one on his right and the other on his left.
Those passing by reviled him, shaking their heads and saying,
"You who would destroy the temple and rebuild it in three days,
save yourself, if you are the Son of God,
and come down from the cross!"
Likewise the chief priests with the scribes and elders mocked him and said,
"He saved others; he cannot save himself.
So he is the king of Israel!
Let him come down from the cross now,
and we will believe in him.
He trusted in God;
let him deliver him now if he wants him.
For he said, 'I am the Son of God.'"
The revolutionaries who were crucified with him
also kept abusing him in the same way.

From noon onward, darkness came over the whole land
until three in the afternoon.
And about three o'clock Jesus cried out in a loud voice,
"Eli, Eli, lema sabachthani?"
which means, "My God, my God, why have you forsaken me?"
Some of the bystanders who heard it said,
"This one is calling for Elijah."
Immediately one of them ran to get a sponge;
he soaked it in wine, and putting it on a reed,
gave it to him to drink.
But the rest said,
'Wait, let us see if Elijah comes to save him."
But Jesus cried out again in a loud voice,
and gave up his spirit.

Here all kneel and pause for a short time.

And behold, the veil of the sanctuary
was torn in two from top to bottom.
The earth quaked, rocks were split, tombs were opened,
and the bodies of many saints who had fallen asleep were raised.
And coming forth from their tombs after his resurrection,
they entered the holy city and appeared to many.
The centurion and the men with him who were keeping watch over Jesus
feared greatly when they saw the earthquake
and all that was happening, and they said,
"Truly, this was the Son of God!"

 

CỦNG CỐ NIỀM TIN

CỦNG CỐ NIỀM TIN

CHÚA NHẬT TUẦN V MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( Ed 37:12-14). Bài đọc 2 : (Rm 8:8-11). Tin Mừng : ( Ga 11:1-15)

Lazarô đau nặng. Hai chị em Mácta và Maria cho người đến báo tin cho Đức Giêsu: “ Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” Nhưng Ngài  vẫn thản nhiên  như không có gì quan trọng: “ Bệnh này không đến nỗi chết đâu.” Ngài còn lưu lại thêm hai ngày nơi Ngài đang ở. Sau khi xác nhận với các môn đệ rằng Lazarô đã chết và trước khi đến nhà cô Mácta, Ngài nói với các môn đệ: “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt để anh em tin.” Nếu Đức Giêsu có mặt lúc Lazarô còn bệnh, có thể người ta cũng chỉ nhìn Ngài như một người  có quyền phép đã chữa như cho bao nhiêu người khác. Mục đích chính của việc cho Lazarô chết đi sống lại “ là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

Đức Giêsu biết Lazarô đã chết, nhưng Ngài giả vờ như không biết. Ngài ví cái chết của Lazarô như một giấc ngủ say. Việc cho Lazarô sống lại như là một việc đánh thức anh ta dậy để đi vào một cuộc sống khác: cuộc sống vĩnh cửu. Nhân cơ hội này, Đức Giêsu muốn dẫn niềm tin của mọi người vào sự sống lại và sự sống vĩnh cửu; và trước con đường khổ nạn Ngài sắp trải qua, Ngài thấy càng phải khẳng định, mạnh mẽ và quyết liệt hơn để củng cố niềm tin của mọi người rằng Ngài chết và Ngài sẽ phục sinh.

Nhân việc cho Lazarô sống lại, Đức Giêsu muốn chị em Mácta, các môn đệ, những người Do thái và chúng ta hướng về một sự sống lại và  sự sống đời đời. Lazarô đã chết. Anh đã được sống lại, nhưng sự sống lại của anh về thân xác rồi cũng phải chết. Có một sự sống lại và sẽ sống mãi không còn phải chết, đó là sự sống lại nhờ sự phục sinh của Đức Kitô. Chính Đức Kitô là nguồn mạch của sự sống ấy như lời thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma: “ Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em , mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” Nhưng để có được sự sống lại và sống đời đời thì phải tin vào Đấng có quyền phép làm việc đó chính là Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là nguồn mạch sự sống. Ngài là nguồn mạch của sự sống bất tử của Thiên Chúa. Sự sống mới này không chỉ là hy vọng tương lai, nhưng là một thực tế trong hiện tại.

Ai trong chúng ta có người thân yêu nhất chết đi như hai chị em Mácta và Maria mất đi người em thân thương Lazarô, cũng ao ước muốn được người thân thương ấy sống lại. Nhưng dù có sống lại thì người thân của chúng ta cũng sẽ chết. Sống lại để cải thiện cuộc sống hay tiếp tục sống một cuộc sống ích kỷ, vô cảm , thì sống lại để làm gì?

Việc Đức Giêsu cho Lazarô sống lại chỉ để xoa dịu một phần nào nỗi thương tiếc, tình cảm nhân bản. Chúa Giêsu cũng có tình cảm với Lazarô. Ngài cũng khóc. Nhưng qua việc cho Lazarô sống lại, Đức Giêsu lại hướng hai chị em Mácta, các môn đệ và chúng ta về sự sống lại và sự sống đời đời mai sau. Việc sống lại của Lazarô là một niềm khát vọng cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Qua sự sống lại về thân xác, Đức Giêsu muốn hướng chúng ta đến một sự sống lại đem lại sự sống đời đời.

Gặp Thầy, cô Mácta đã nói với Đức Giêsu: “ Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người sẽ ban cho Thầy.” Một lời tuyên xưng đức tin tuyệt vời! Và Đức Giêsu đã quả quyết: “ Em chị sẽ sống lại!” và cô lại tiếp tục tuyên xưng đức tin: “  Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” Đức Giêsu liền phán: “ Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?” Cô Mácta đáp: “ Thưa Thầy, có.” Phần chúng ta, nếu Chúa cũng hỏi chúng ta như thế, chúng ta sẽ trả lời thế nào?

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần V Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần V Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT 04-02-2017

BÀI ĐỌC I: Ed 37, 12-14

"Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Đây Chúa là Thiên Chúa phán: "Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống, Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, và các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và đã thi hành". Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-6. 7-8

Đáp: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ (c. 7).

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. – Đáp.

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. – Đáp.

3) Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn con mong đợi Chúa con, hơn người lính gác mong trời rạng đông. – Đáp.

4) Hơn người lính gác mong hừng đông dậy. Israel đang mong đợi Chúa con: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israel cho khỏi mọi điều gian ác. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 8, 8-11

"Thánh Thần của Đấng làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Chúa. Còn anh em, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Đức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Nhưng nếu Đức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính. Và nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

PHÚC ÂM: Ga 11, 1-45

"Ta là sự sống lại và là sự sống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt". Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển".

Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: "Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa". Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?" Chúa Giêsu đáp: "Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng". Người nói thế, rồi lại bảo họ: "Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông". Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại". Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: "Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông". Lúc đó Tôma, cũng có tên là Điđimô, nói với đồng bạn: "Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người".

Đến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy". Chúa Giêsu nói: "Em con sẽ sống lại". Martha thưa: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại". Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Bà thưa: "Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian".

Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: "Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em". Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ. Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết". Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: "Đã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem". Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: "Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!" Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: "Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?" Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: "Hãy đẩy tảng đá ra". Martha là chị người chết, thưa: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày". Chúa Giêsu lại nói: "Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: "Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con". Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!" Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: "Hãy cởi ra cho anh ấy đi".

Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người. Đó là lời Chúa.

___________________

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 11, 3-7. 17. 20-27. 33b-45

Khi ấy, hai chị em của Ladarô sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt". Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển".

Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: "Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa".

Đến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy". Chúa Giêsu nói: "Em con sẽ sống lại". Martha thưa: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con cũng sẽ sống lại". Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Bà thưa: "Thưa Thầy: vâng, con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian".

Người xúc động và hỏi: "Đã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem". Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: "Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!" Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: "Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?" Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ.

Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: "Hãy đẩy tảng đá ra". Martha là chị người chết, thưa: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày". Chúa Giêsu lại nói: "Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: "Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con. Nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con". Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!" Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: "Hãy cởi ra cho anh ấy đi".

Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người. Đó là lời Chúa.

 

Fifth Sunday of Lent

SUNDAY 04-02-2017

Reading 1 Ez 37:12-14

Thus says the Lord GOD:
O my people, I will open your graves
and have you rise from them,
and bring you back to the land of Israel.
Then you shall know that I am the LORD,
when I open your graves and have you rise from them,
O my people!
I will put my spirit in you that you may live,
and I will settle you upon your land;
thus you shall know that I am the LORD.
I have promised, and I will do it, says the LORD.

Responsorial Psalm Ps 130:1-2, 3-4, 5-6, 7-8

R. (7) With the Lord there is mercy and fullness of redemption.
Out of the depths I cry to you, O LORD;
LORD, hear my voice!
Let your ears be attentive
to my voice in supplication.
R. With the Lord there is mercy and fullness of redemption.
If you, O LORD, mark iniquities,
LORD, who can stand?
But with you is forgiveness,
that you may be revered.
R. With the Lord there is mercy and fullness of redemption.
I trust in the LORD;
my soul trusts in his word.
More than sentinels wait for the dawn,
let Israel wait for the LORD.
R. With the Lord there is mercy and fullness of redemption.
For with the LORD is kindness
and with him is plenteous redemption;
And he will redeem Israel
from all their iniquities.
R. With the Lord there is mercy and fullness of redemption.

Reading 2 Rom 8:8-11

Brothers and sisters:
Those who are in the flesh cannot please God.
But you are not in the flesh;
on the contrary, you are in the spirit,
if only the Spirit of God dwells in you.
Whoever does not have the Spirit of Christ does not belong to him.
But if Christ is in you,
although the body is dead because of sin,
the spirit is alive because of righteousness.
If the Spirit of the one who raised Jesus from the dead dwells in you,
the one who raised Christ from the dead
will give life to your mortal bodies also,
through his Spirit dwelling in you.

Verse Before the Gospel Jn 11:25a, 26

I am the resurrection and the life, says the Lord;
whoever believes in me, even if he dies, will never die.

Gospel Jn 11:1-45

Now a man was ill, Lazarus from Bethany,
the village of Mary and her sister Martha.
Mary was the one who had anointed the Lord with perfumed oil
and dried his feet with her hair;
it was her brother Lazarus who was ill.
So the sisters sent word to him saying,
"Master, the one you love is ill."
when Jesus heard this he said,
"This illness is not to end in death,
but is for the glory of God,
that the Son of God may be glorified through it."
Now Jesus loved Martha and her sister and Lazarus.
So when he heard that he was ill,
he remained for two days in the place where he was.
Then after this he said to his disciples,
"Let us go back to Judea."
The disciples said to him,
"Rabbi, the Jews were just trying to stone you,
and you want to go back there?"
Jesus answered,
"Are there not twelve hours in a day?
If one walks during the day, he does not stumble,
because he sees the light of this world.
But if one walks at night, he stumbles,
because the light is not in him."
He said this, and then told them,
"Our friend Lazarus is asleep,
but I am going to awaken him."
So the disciples said to him,
"Master, if he is asleep, he will be saved."
But Jesus was talking about his death,
while they thought that he meant ordinary sleep.
So then Jesus said to them clearly,
"Lazarus has died.
And I am glad for you that I was not there,
that you may believe.
Let us go to him."
So Thomas, called Didymus, said to his fellow disciples,
"Let us also go to die with him."

When Jesus arrived, he found that Lazarus
had already been in the tomb for four days.
Now Bethany was near Jerusalem, only about two miles away.
And many of the Jews had come to Martha and Mary
to comfort them about their brother.
When Martha heard that Jesus was coming,
she went to meet him;
but Mary sat at home.
Martha said to Jesus,
"Lord, if you had been here,
my brother would not have died.
But even now I know that whatever you ask of God,
God will give you."
Jesus said to her,
"Your brother will rise."
Martha said to him,
"I know he will rise,
in the resurrection on the last day."
Jesus told her,
"I am the resurrection and the life;
whoever believes in me, even if he dies, will live,
and everyone who lives and believes in me will never die.
Do you believe this?"
She said to him, "Yes, Lord.
I have come to believe that you are the Christ, the Son of God,
the one who is coming into the world."

When she had said this,
she went and called her sister Mary secretly, saying,
"The teacher is here and is asking for you."
As soon as she heard this,
she rose quickly and went to him.
For Jesus had not yet come into the village,
but was still where Martha had met him.
So when the Jews who were with her in the house comforting her
saw Mary get up quickly and go out,
they followed her,
presuming that she was going to the tomb to weep there.
When Mary came to where Jesus was and saw him,
she fell at his feet and said to him,
"Lord, if you had been here,
my brother would not have died."
When Jesus saw her weeping and the Jews who had come with her weeping,
he became perturbed and deeply troubled, and said,
"Where have you laid him?"
They said to him, "Sir, come and see."
And Jesus wept.
So the Jews said, "See how he loved him."
But some of them said,
"Could not the one who opened the eyes of the blind man
have done something so that this man would not have died?"

So Jesus, perturbed again, came to the tomb.
It was a cave, and a stone lay across it.
Jesus said, "Take away the stone."
Martha, the dead man's sister, said to him,
"Lord, by now there will be a stench;
he has been dead for four days."
Jesus said to her,
"Did I not tell you that if you believe
you will see the glory of God?"
So they took away the stone.
And Jesus raised his eyes and said,
"Father, I thank you for hearing me.
I know that you always hear me;
but because of the crowd here I have said this,
that they may believe that you sent me."
And when he had said this,
He cried out in a loud voice,
"Lazarus, come out!"
The dead man came out,
tied hand and foot with burial bands,
and his face was wrapped in a cloth.
So Jesus said to them,
"Untie him and let him go."

Now many of the Jews who had come to Mary
and seen what he had done began to believe in him.

or Jn 11:3-7, 17, 20-27, 33b-45

The sisters of Lazarus sent word to Jesus, saying,
"Master, the one you love is ill."
When Jesus heard this he said,
"This illness is not to end in death,
but is for the glory of God,
that the Son of God may be glorified through it."
Now Jesus loved Martha and her sister and Lazarus.
So when he heard that he was ill,
he remained for two days in the place where he was.
Then after this he said to his disciples,
"Let us go back to Judea."

When Jesus arrived, he found that Lazarus
had already been in the tomb for four days.
When Martha heard that Jesus was coming,
she went to meet him;
but Mary sat at home.
Martha said to Jesus,
"Lord, if you had been here,
my brother would not have died.
But even now I know that whatever you ask of God,
God will give you."
Jesus said to her,
"Your brother will rise."
Martha said,
"I know he will rise,
in the resurrection on the last day."
Jesus told her,
"I am the resurrection and the life;
whoever believes in me, even if he dies, will live,
and everyone who lives and believes in me will never die.
Do you believe this?"
She said to him, "Yes, Lord.
I have come to believe that you are the Christ, the Son of God,
the one who is coming into the world."

He became perturbed and deeply troubled, and said,
"Where have you laid him?"
They said to him, "Sir, come and see."
And Jesus wept.
So the Jews said, "See how he loved him."
But some of them said,
"Could not the one who opened the eyes of the blind man
have done something so that this man would not have died?"

So Jesus, perturbed again, came to the tomb.
It was a cave, and a stone lay across it.
Jesus said, "Take away the stone."
Martha, the dead man's sister, said to him,
"Lord, by now there will be a stench;
he has been dead for four days."
Jesus said to her,
"Did I not tell you that if you believe
you will see the glory of God?"
So they took away the stone.
And Jesus raised his eyes and said,
"Father, I thank you for hearing me.
I know that you always hear me;
but because of the crowd here I have said this,
that they may believe that you sent me."
And when he had said this,
He cried out in a loud voice,
"Lazarus, come out!"
The dead man came out,
tied hand and foot with burial bands,
and his face was wrapped in a cloth.
So Jesus said to them,
"Untie him and let him go."

Now many of the Jews who had come to Mary
and seen what he had done began to believe in him.

CỐ CHẤP !

CỐ CHẤP !

CHÚA NHẬT TUẦN IV MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( 1 Sm 16:6-7,10-13). Bài đọc 2 : ( Ep 5: 8-14). Tin Mừng : ( Ga 9:1-41)

Nước Trịnh có một người đi thử giày. Anh làm một cái mẫu đo các chiều dài, ngắn của bàn chân, rồi để cái mẫu ấy bên chỗ ngồi. Lúc đi chợ, quên không cầm cái mẫu ấy đi. Đến hàng giày, mới sực nhớ ra: “ Thôi quên! Không cầm cái mẫu đo đi rồi!” Anh vội vã chạy về nhà lấy. Khi trở lại, thì chợ đã tan, không thử được giày nữa. Có người thấy thế, bảo rằng: “ Sao không đưa chân ra cho người ta đo có được không?” Anh ta cãi: “ Tôi chỉ tin có cái mẫu đo thôi, chớ tôi không tin chân tôi được.”

Thử giày cốt để đi vừa chân là được mà không tin, lại chỉ tin vào cái mẫu đo chân, chẳng là  câu nệ quá lắm ư! Ở đời, những người sống mà cứ bo bo giữ chặt lối sống cũ, không biết thế nào là hợp thời thích nghi, thì có khác gì người đi thử giày chỉ tin vào cái mẫu đo chân, mà không tin vào chân mình. ( Hàn Phi Tử)

Trên đường đi, nhìn thấy một người mù bẩm sinh, Đức Giêsu dừng lại, nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “ Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.” Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. Lẽ ra người ta phải mừng cho anh mù bẩm sinh vì được thoát khỏi cảnh mù lòa, nhưng từ đó, người ta đã nẩy sinh nhiều thái độ khác nhau.

Những người láng giếng hay những người trước kia thường thấy anh ăn xin, người thì nghi ngờ không biết có phải là anh ta hay là một ai giống anh ta, người thì quả quyết đó chính là anh ta. Dù cho anh quả quyết với họ chính là anh ta và anh đã thuật lại cho họ cách ông Giêsu đã chữa cho anh sáng mắt, nhưng họ vẫn cố chấp!

Sau khi đã biết chắc anh bị mù bẩm sinh và được ông Giêsu chữa lành, họ lại bắt đầu quay về người chữa lành cho anh. Vì Đức Giêsu chữa lành cho anh mù vào ngày sabát, nên họ lại cho rằng  ông ấy không phải là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát, như thế là một người tội lỗi thì không thể làm được dấu lạ như vậy.

Vào thời Đức Giêsu, người ta tin rằng khi một người nào đó mắc bệnh tật như mù, què, đó là do hậu quả của tội lỗi của mình gây ra hoặc do hậu quả của cha mẹ để lại. Khi thấy người mù bẩm sinh, các môn đệ của Đức Giêsu cũng đã hỏi Thầy : “ Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” và Ngài đã khẳng định:“ Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” Đức Giêsu loại bỏ quan điểm nối kết giữa đau khổ và tội lỗi. Sự mù lòa  bẩm sinh không phải là hình phạt của Thiên Chúa. Thiên Chúa không làm điều ác. Ngài chỉ yêu thương và làm điều lành. Những đau khổ của con người là dịp để cho Thiên Chúa thể hiện quyền phép và lòng thương xót của Ngài.

Diễn tiến từ mù lòa sang sáng mắt là biểu hiện một cuộc hành trình đức tin, từ không tin sang tin, từ tăm tối sang ánh sáng. Đức Giêsu đã cho biết: “ Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: Cho người không xem thấy được thấy, và cho kẻ xem thấy lại nên đui mù.” Đức Giêsu là ánh sáng thế gian. Ngài không chỉ mở mắt cho người mù về mặt thể lý, mà còn ban ánh sáng đức tin cho người bị mù về tâm hồn.

Trong khi người mù được nhìn thấy ánh sáng, thì những người Pharisiêu, vốn có đôi mắt sáng về thể lý lại trở nên mù lòa về tinh thần do ích kỷ không nhìn thấy nhu cầu của người khác, do sự cố chấp và thành kiến không can đảm nhìn nhận sự thật, do kiêu căng không thấy đước những lỗi lầm của mình, do hẹp hòi nông cạn, không thấy được giá trị đích thực của con người.Vì thành kiến đi đến cố chấp. Vì cố chấp nên thiếu độ lượng.

Thảm kịch lớn lao nhất không phải là mù bẩm sinh, nhưng do sáng mắt mà đầu óc hẹp hòi; một tâm hồn nhỏ mọn đưa chúng ta đến một cái nhìn thiếu sót, một lối sống ích kỷ.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần IV Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần IV Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT 03-26-2017

BÀI ĐỌC I: 1 Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a

"Đavit được xức dầu làm vua Israel".

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: "Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua".

Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: "Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?" Và Chúa phán cùng Samuel: "Đừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn". Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: "Chúa không chọn ai trong những người này". Samuel nói tiếp: "Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?" Isai đáp: "Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên". Samuel nói với Isai: "Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về". Isai sai người đi tìm đứa con út. Đứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: "Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó". Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Đavít từ ngày đó trở đi. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6

Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).

1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Đáp.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Đáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Đáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Ep 5, 8-14

"Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: "Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi". Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ga 8, 12b

Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".

PHÚC ÂM: Ga 9, 1-41 (bài dài)

"Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?" Chúa Giêsu đáp: "Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Đấng đã sai Ta. Đêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian". Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: "Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa" (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: "Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?" Có kẻ nói: "Đúng hắn!" Lại có người bảo: "Không phải, nhưng là một người giống hắn". Còn anh ta thì nói: "Chính tôi đây". Họ hỏi anh: "Làm thế nào mắt anh được sáng?" Anh ta nói: "Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy". Họ lại hỏi: "Ngài ở đâu?" Anh thưa: "Tôi không biết".

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: "Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt". Mấy người biệt phái nói: "Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat". Mấy kẻ khác lại rằng: "Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?" Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Đó là một tiên tri".

Nhưng người Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: "Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?" Cha mẹ y thưa rằng: "Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy". Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: "Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó".

Lúc ấy người Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi". Anh ta trả lời: "Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy". Họ hỏi anh: "Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?" Anh thưa: "Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?" Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: "Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến". Anh đáp: "Đó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì". Họ bảo anh ta: "Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?" Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: "Anh có tin Con Thiên Chúa không?" Anh thưa: "Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?" Chúa Giêsu đáp: "Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh". Anh ta liền nói: "Lạy Ngài, tôi tin", và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: "Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù". Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: "Thế ra chúng tôi mù cả ư?" Chúa Giêsu đáp: "Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói 'Chúng tôi xem thấy', nên tội các ngươi vẫn còn". Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34-38

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: "Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa" (chữ Silôe có nghĩa là được sai)". Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: "Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?" Có kẻ nói: "Đúng hắn". Lại có người bảo: "Không phải, nhưng là một người giống hắn". Còn anh ta thì nói: "Chính tôi đây".

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: "Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt". Mấy người biệt phái nói: "Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat". Mấy kẻ khác lại rằng: "Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?" Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Đó là một Tiên tri". Họ bảo anh ta: "Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?" Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: "Anh có tin Con Thiên Chúa không?" Anh thưa: "Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?" Chúa Giêsu đáp: "Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh". Anh ta liền nói: "Lạy Ngài, tôi tin", và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Đó là lời Chúa.

Fourth Sunday of Lent

SUNDAY 03-26-2017

Reading 1 1 Sm 16:1b, 6-7, 10-13a

The LORD said to Samuel:
"Fill your horn with oil, and be on your way.
I am sending you to Jesse of Bethlehem,
for I have chosen my king from among his sons."

As Jesse and his sons came to the sacrifice,
Samuel looked at Eliab and thought,
"Surely the LORD's anointed is here before him."
But the LORD said to Samuel:
"Do not judge from his appearance or from his lofty stature,
because I have rejected him.
Not as man sees does God see,
because man sees the appearance
but the LORD looks into the heart."
In the same way Jesse presented seven sons before Samuel,
but Samuel said to Jesse,
"The LORD has not chosen any one of these."
Then Samuel asked Jesse,
"Are these all the sons you have?"
Jesse replied,
"There is still the youngest, who is tending the sheep."
Samuel said to Jesse,
"Send for him;
we will not begin the sacrificial banquet until he arrives here."
Jesse sent and had the young man brought to them.
He was ruddy, a youth handsome to behold
and making a splendid appearance.
The LORD said,
"There—anoint him, for this is the one!"
Then Samuel, with the horn of oil in hand,
anointed David in the presence of his brothers;
and from that day on, the spirit of the LORD rushed upon David.

Responsorial Psalm Ps 23: 1-3a, 3b-4, 5, 6

R. (1) The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
With your rod and your staff
that give me courage.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.

Reading 2 Eph 5:8-14

Brothers and sisters:
You were once darkness,
but now you are light in the Lord.
Live as children of light,
for light produces every kind of goodness
and righteousness and truth.
Try to learn what is pleasing to the Lord.
Take no part in the fruitless works of darkness;
rather expose them, for it is shameful even to mention
the things done by them in secret;
but everything exposed by the light becomes visible,
for everything that becomes visible is light.
Therefore, it says:
"Awake, O sleeper,
and arise from the dead,
and Christ will give you light."

Verse Before the Gospel Jn 8:12

I am the light of the world, says the Lord;
whoever follows me will have the light of life.

Gospel Jn 9:1-41

As Jesus passed by he saw a man blind from birth.
His disciples asked him,
"Rabbi, who sinned, this man or his parents,
that he was born blind?"
Jesus answered,
"Neither he nor his parents sinned;
it is so that the works of God might be made visible through him.
We have to do the works of the one who sent me while it is day.
Night is coming when no one can work.
While I am in the world, I am the light of the world."
When he had said this, he spat on the ground
and made clay with the saliva,
and smeared the clay on his eyes,
and said to him,
"Go wash in the Pool of Siloam" —which means Sent—.
So he went and washed, and came back able to see.

His neighbors and those who had seen him earlier as a beggar said,
"Isn't this the one who used to sit and beg?"
Some said, "It is, "
but others said, "No, he just looks like him."
He said, "I am."
So they said to him, "How were your eyes opened?"
He replied,
"The man called Jesus made clay and anointed my eyes
and told me, 'Go to Siloam and wash.'
So I went there and washed and was able to see."
And they said to him, "Where is he?"
He said, "I don't know."

They brought the one who was once blind to the Pharisees.
Now Jesus had made clay and opened his eyes on a sabbath.
So then the Pharisees also asked him how he was able to see.
He said to them,
"He put clay on my eyes, and I washed, and now I can see."
So some of the Pharisees said,
"This man is not from God,
because he does not keep the sabbath."
But others said,
"How can a sinful man do such signs?"
And there was a division among them.
So they said to the blind man again,
"What do you have to say about him,
since he opened your eyes?"
He said, "He is a prophet."

Now the Jews did not believe
that he had been blind and gained his sight
until they summoned the parents of the one who had gained his sight.
They asked them,
"Is this your son, who you say was born blind?
How does he now see?"
His parents answered and said,
"We know that this is our son and that he was born blind.
We do not know how he sees now,
nor do we know who opened his eyes.
Ask him, he is of age;
he can speak for himself."
His parents said this because they were afraid of the Jews,
for the Jews had already agreed
that if anyone acknowledged him as the Christ,
he would be expelled from the synagogue.
For this reason his parents said,
"He is of age; question him."

So a second time they called the man who had been blind
and said to him, "Give God the praise!
We know that this man is a sinner."
He replied,
"If he is a sinner, I do not know.
One thing I do know is that I was blind and now I see."
So they said to him,
"What did he do to you?
How did he open your eyes?"
He answered them,
"I told you already and you did not listen.
Why do you want to hear it again?
Do you want to become his disciples, too?"
They ridiculed him and said,
"You are that man's disciple;
we are disciples of Moses!
We know that God spoke to Moses,
but we do not know where this one is from."
The man answered and said to them,
"This is what is so amazing,
that you do not know where he is from, yet he opened my eyes.
We know that God does not listen to sinners,
but if one is devout and does his will, he listens to him.
It is unheard of that anyone ever opened the eyes of a person born blind.
If this man were not from God,
he would not be able to do anything."
They answered and said to him,
"You were born totally in sin,
and are you trying to teach us?"
Then they threw him out.

When Jesus heard that they had thrown him out,
he found him and said, "Do you believe in the Son of Man?"
He answered and said,
"Who is he, sir, that I may believe in him?"
Jesus said to him,
"You have seen him,
the one speaking with you is he."
He said,
"I do believe, Lord," and he worshiped him.
Then Jesus said,
"I came into this world for judgment,
so that those who do not see might see,
and those who do see might become blind."

Some of the Pharisees who were with him heard this
and said to him, "Surely we are not also blind, are we?"
Jesus said to them,
"If you were blind, you would have no sin;
but now you are saying, 'We see,' so your sin remains.

or JN 9:1, 6-9, 13-17, 34-38

As Jesus passed by he saw a man blind from birth.
He spat on the ground and made clay with the saliva,
and smeared the clay on his eyes, and said to him,
"Go wash in the Pool of Siloam" — which means Sent —.
So he went and washed, and came back able to see.

His neighbors and those who had seen him earlier as a beggar said,
"Isn't this the one who used to sit and beg?"
Some said, "It is, "
but others said, "No, he just looks like him."
He said, "I am."

They brought the one who was once blind to the Pharisees.
Now Jesus had made clay and opened his eyes on a sabbath.
So then the Pharisees also asked him how he was able to see.
He said to them,
"He put clay on my eyes, and I washed, and now I can see."
So some of the Pharisees said,
"This man is not from God,
because he does not keep the sabbath."
But others said,
"How can a sinful man do such signs?"
And there was a division among them.
So they said to the blind man again,
"What do you have to say about him,
since he opened your eyes?"
He said, "He is a prophet."

They answered and said to him,
"You were born totally in sin,
and are you trying to teach us?"
Then they threw him out.

When Jesus heard that they had thrown him out,
he found him and said, "Do you believe in the Son of Man?"
He answered and said,
"Who is he, sir, that I may believe in him?"
Jesus said to him,
"You have seen him, and
the one speaking with you is he."
He said,
"I do believe, Lord," and he worshiped him.

KHÁT

KHÁT

CHÚA NHẬT TUẦN III MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( Xh 17: 3-7). Bài đọc 2 : ( Rm 5:1-2,5-8). Tin Mừng : ( Ga 4:5-42)

Nơi con người, có sự sống thân xác và sự sống tâm linh. Nước là nhu cầu không thể thiếu đối với thân xác thì nước cũng rất cần cho đời sống tâm linh. Cả hai đều chết vì khát. Sự sống tâm linh sẽ chết khi khát đức tin, khát ân huệ của Thiên Chúa. Cái khát ấy sẽ đưa con người đến sự hủy diệt muôn đời.

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng nước Giacóp đã đánh dấu một cuộc biến đổi. Đức Giêsu là người trước tiên xóa bỏ ranh giới ngăn cách giữa người  Do Thái và người Samari. Từ nước ở giếng Giacóp, Ngài đã đưa người phụ nữ đến cơn khát tinh thần: “ Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin và người ấy ban cho chị nước hằng sống.” Nước hằng sống là mạch nước mà ai uống, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước ấy sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời. Đức tin là nguồn nước hằng sống. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đã viết: “ Một khi đã được nên công chính  nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.” Đó là nguồn nước hằng sống.

Khi đã cho người phụ nữ Samari biết mình là ai, Đức Giêsu  hướng tâm hồn chị  đến việc phải thờ phương Chúa Cha trong thần khí và sự thật, chứ không phải khép kín trên núi hay tại Giêrusalem. Người phụ nữ Samari đã trở về với cõi lòng mình để biến đổi cuộc đời.

Cha Doyle, một Linh mục dòng Tên, người Ailen, nổi tiếng thánh thiện và hay giúp đỡ người khác. Một buổi tối, sau khi giảng một bài về sự truyền giáo, ngài đi ra đường và gặp một thiếu nữ. Ngài dịu dàng nói với cô: “ Con ạ, trời đã khuya. Con chưa về nhà sao? Đừng làm Chúa đau khổ. Ngài yêu con.”

Năm tháng trôi qua. Vào một đêm nọ, có điện thoại của bề trên sai ngài đi Dublin ngay lập tức để gặp một người nữ tù sắp bị hành hình vào sáng mai, vì người phụ nữ ấy yêu cầu được gặp ngài. Người nữ tù ấy là cô Fanny Cranbush, đã bị kết án cộng tác với kẻ khác để đầu độc nhiều người. Vừa thấy linh mục, cô quỳ gối và nói: “Thưa cha, cảm ơn Chúa vì cha đã đên đây.” Linh mục ngạc nhiên hỏi: “ Nhưng con ạ, cha chưa biết con. Con cần gì?” Cô ta đáp lại: “ Cha không nhớ con sao? Hai năm trước đây, cha đã gặp con trên đường phố Yarmouth vào một đêm tối. Cha đã nói với con: “ Con ạ, trời đã khuya. Con chưa về nhà sao? Đừng làm Chúa đau khổ. Ngài yêu con.” Chúa là ai? Con chưa biết. Con chưa bao giờ cầu nguyện và chưa được rửa tội. Nhiều tuần lễ, con muốn tránh xa con đường tội lỗi; nhưng vì cái đói, mỗi ngày con càng lún sâu trong tội lỗi đến độ giờ đây con sắp bị treo cổ. Con đã tuyệt vọng. Nhớ lại lời cha đã nói, con khóc và muốn được gặp cha để nghe cha nói về Chúa Giêsu.

Cha dạy giáo lý cho cô với thời gian cho phép, trước khi rửa tội cho cô. Cha lập một bàn thờ trong nhà giam, dâng Thánh Lễ và cho cô rước  lễ lần đầu cũng là lần cuối. Trên đường đi xử, cô thì thầm: “ Thưa cha, con thật hạnh phúc. Chúa Giêsu biết con ăn năn hối lỗi vì đã xúc phạm đến Ngài. Con tin Chúa Giêsu hằng yêu mến con. Amen.”

Thiên Chúa là Tình yêu. Ngài luôn yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta đang ở trong tình trạng tội lỗi. Khi dân Do Thái xuất hành qua sa mạc, bất chấp sự vô ôn ơn hay lời oán trách của họ, Thiên Chúa đã không từ bỏ dân của Ngài; nhưng qua Môsê, Ngài đã cung cấp nước cho họ. Thánh Phaolô cũng đã khẳng định trong thư gữi tín hữu Rôma: “ Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng nước Giacóp đã chứng minh chân lý ấy.

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim

Chúa Nhật Tuần III Mùa Chay Năm A

Chúa Nhật Tuần III Mùa Chay Năm A

CHÚA NHẬT 03-19-2017

BÀI ĐỌC I: Xh 17, 3-7

"Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống".

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: "Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy". Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: "Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi". Chúa liền phán bảo Môsê: "Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống". Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là "Thử Thách", vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: "Chúa có ở với chúng tôi hay không?" Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Các ngươi đừng cứng lòng!" (c. 8)

1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người! – Đáp.

2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta,và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. – Đáp.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta". – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 5, 1-2. 5-8

"Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ga 4, 42 và 15

Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.

PHÚC ÂM: Ga 4, 5-42 (bài dài)

"Mạch nước vọt đến sự sống đời đời". 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: "Xin bà cho tôi uống nước" (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?" (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: "Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: 'Xin cho tôi uống nước', thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?"

Chúa Giêsu trả lời: "Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời". Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa". Chúa Giêsu bảo: "Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây". Người đàn bà đáp: "Tôi không có chồng". Chúa Giêsu nói tiếp: "Bà nói 'tôi không có chồng' là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem".

Chúa Giêsu đáp: "Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Đấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý".

Người đàn bà thưa: "Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Chúa Giêsu bảo: "Đấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây".

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: "Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?" Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: "Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Đấng Kitô?" Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: "Xin mời Thầy ăn". Nhưng Ngài đáp: "Thầy có của ăn mà các con không biết". Môn đệ hỏi nhau: "Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?" Chúa Giêsu nói: "Của Thầy ăn là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Đúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ".

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: "Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm". Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: "Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế". Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: "Xin bà cho tôi uống nước" (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?" (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).

Chúa Giêsu đáp: "Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: 'Xin cho tôi uống nước', thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống".

Người đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?"

Chúa Giêsu trả lời: "Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời". Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa".

Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: "Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem". Chúa Giêsu đáp: "Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Đấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý".

Người đàn bà thưa: "Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Chúa Giêsu bảo: "Đấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây".

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: "Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế". Đó là lời Chúa.

Third Sunday of Lent

SUNDAY 03-19-2017

Reading 1 Ex 17:3-7

In those days, in their thirst for water,
the people grumbled against Moses,
saying, "Why did you ever make us leave Egypt?
Was it just to have us die here of thirst
with our children and our livestock?"
So Moses cried out to the LORD,
"What shall I do with this people?
a little more and they will stone me!"
The LORD answered Moses,
"Go over there in front of the people,
along with some of the elders of Israel,
holding in your hand, as you go,
the staff with which you struck the river.
I will be standing there in front of you on the rock in Horeb.
Strike the rock, and the water will flow from it
for the people to drink."
This Moses did, in the presence of the elders of Israel.
The place was called Massah and Meribah,
because the Israelites quarreled there
and tested the LORD, saying,
"Is the LORD in our midst or not?"

Responsorial Psalm Ps 95:1-2, 6-7, 8-9

R. (8) If today you hear his voice, harden not your hearts.
Come, let us sing joyfully to the LORD;
let us acclaim the Rock of our salvation.
Let us come into his presence with thanksgiving;
let us joyfully sing psalms to him.
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.
Come, let us bow down in worship;
let us kneel before the LORD who made us.
For he is our God,
and we are the people he shepherds, the flock he guides.
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.
Oh, that today you would hear his voice:
"Harden not your hearts as at Meribah,
as in the day of Massah in the desert,
Where your fathers tempted me;
they tested me though they had seen my works."
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.

Reading 2 Rom 5:1-2, 5-8

Brothers and sisters:
Since we have been justified by faith,
we have peace with God through our Lord Jesus Christ,
through whom we have gained access by faith
to this grace in which we stand,
and we boast in hope of the glory of God.

And hope does not disappoint,
because the love of God has been poured out into our hearts
through the Holy Spirit who has been given to us.
For Christ, while we were still helpless,
died at the appointed time for the ungodly.
Indeed, only with difficulty does one die for a just person,
though perhaps for a good person one might even find courage to die.
But God proves his love for us
in that while we were still sinners Christ died for us.

Verse Before the Gospel Cf. Jn 4:42, 15

Lord, you are truly the Savior of the world;
give me living water, that I may never thirst again.

Gospel Jn 4:5-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar,
near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob's well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
"Give me a drink."
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him,
"How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?"
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
"If you knew the gift of God
and who is saying to you, 'Give me a drink, '
you would have asked him
and he would have given you living water."
The woman said to him,
"Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep;
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob,
who gave us this cistern and drank from it himself
with his children and his flocks?"
Jesus answered and said to her,
"Everyone who drinks this water will be thirsty again;
but whoever drinks the water I shall give will never thirst;
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life."
The woman said to him,
"Sir, give me this water, so that I may not be thirsty
or have to keep coming here to draw water."

Jesus said to her,
"Go call your husband and come back."
The woman answered and said to him,
"I do not have a husband."
Jesus answered her,
"You are right in saying, 'I do not have a husband.'
For you have had five husbands,
and the one you have now is not your husband.
What you have said is true."
The woman said to him,
"Sir, I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain;
but you people say that the place to worship is in Jerusalem."
Jesus said to her,
"Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand;
we worship what we understand,
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here,
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth;
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him
must worship in Spirit and truth."
The woman said to him,
"I know that the Messiah is coming, the one called the Christ;
when he comes, he will tell us everything."
Jesus said to her,
"I am he, the one speaking with you."

At that moment his disciples returned,
and were amazed that he was talking with a woman,
but still no one said, "What are you looking for?"
or "Why are you talking with her?"
The woman left her water jar
and went into the town and said to the people,
"Come see a man who told me everything I have done.
Could he possibly be the Christ?"
They went out of the town and came to him.
Meanwhile, the disciples urged him, "Rabbi, eat."
But he said to them,
"I have food to eat of which you do not know."
So the disciples said to one another,
"Could someone have brought him something to eat?"
Jesus said to them,
"My food is to do the will of the one who sent me
and to finish his work.
Do you not say, 'In four months the harvest will be here'?
I tell you, look up and see the fields ripe for the harvest.
The reaper is already receiving payment
and gathering crops for eternal life,
so that the sower and reaper can rejoice together.
For here the saying is verified that 'One sows and another reaps.'
I sent you to reap what you have not worked for;
others have done the work,
and you are sharing the fruits of their work."

Many of the Samaritans of that town began to believe in him
because of the word of the woman who testified,
"He told me everything I have done."
When the Samaritans came to him,
they invited him to stay with them;
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word,
and they said to the woman,
"We no longer believe because of your word;
for we have heard for ourselves,
and we know that this is truly the savior of the world."

or JN 4:5-15, 19b-26, 39a, 40-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar,
near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob's well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
"Give me a drink."
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him,
"How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?"
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
"If you knew the gift of God
and who is saying to you, 'Give me a drink, '
you would have asked him
and he would have given you living water."
The woman said to him,
"Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep;
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob,
who gave us this cistern and drank from it himself
with his children and his flocks?"
Jesus answered and said to her,
"Everyone who drinks this water will be thirsty again;
but whoever drinks the water I shall give will never thirst;
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life."
The woman said to him,
"Sir, give me this water, so that I may not be thirsty
or have to keep coming here to draw water.

"I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain;
but you people say that the place to worship is in Jerusalem."
Jesus said to her,
"Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand;
we worship what we understand,
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here,
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth;
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him
must worship in Spirit and truth."
The woman said to him,
"I know that the Messiah is coming, the one called the Christ;
when he comes, he will tell us everything."
Jesus said to her,
"I am he, the one who is speaking with you."

Many of the Samaritans of that town began to believe in him.
When the Samaritans came to him,
they invited him to stay with them;
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word,
and they said to the woman,
"We no longer believe because of your word;
for we have heard for ourselves,
and we know that this is truly the savior of the world."

 

HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM A

Bài đọc 1 : ( St 12:1-4). Bài đọc 2 : ( 2Tm 1:8-10). Tin Mừng : ( Mt 17: 1-9)

Mới được gọi theo Thầy Giêsu trong một thời gian ngắn, lại nghe Thầy cho biết: Ngài phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thư ba sẽ sống lại. Làm sao các môn đệ có thể vững dạ để bỏ mình vác thập giá mình mà đi theo Thầy được!

Hiểu được tâm trạng hoang mang vì lòng tin còn non yếu của các môn đệ, sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình lên núi. Ở đó, chuyện gì đã xảy ra? Đức Giêsu đã biến hình.

Trước hết, Ngài biến đổi hình dạng trước mặc các ông. Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng. Đó là vinh quang của Đức Kitô; và từ trong đám mây, có tiếng Chúa Cha phán: “ Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” Các môn đệ biết chính xác Đức Giêsu là Đấng nào, nhưng Ngài đã xuống thế mang thân phận con người  để phải chịu một cuộc thương khó nhằm giải cứu nhân loại.  Biến cố biến hình trên núi Tabo chỉ là một thoáng cho các môn đệ thấy vinh quang của Thầy mình sau con đường khổ nhục Ngài sẽ phải trải qua.

Cuộc đàm đạo giữa Môisen, Êlia với Đức Giêsu cho thấy một thế giới siêu hình sau cái chết, thấy sự sống bất tử của con người, thấy quá khứ liên kết với hiện tại, thấy vinh quang cho những ai thành tín đặt tin tưởng vào Thiên Chúa.

Choáng ngợp trước cảnh vinh quang của Thầy mình, các môn đệ đã muốn dựng lều để hưởng thụ, nhưng Đức Giêsu lại đưa họ xuống núi với Ngài để hoàn tất nhiệm vụ Chúa Cha giao phó.

Như Đức Giêsu đã phó thác hoàn toàn vào thánh ý Chúa Cha, nên Chúa Cha đã yêu thương Ngài và tôn vinh Ngài sau khi phục sinh từ cái chết, thì chúng ta là những Kitô hữu cũng sẽ được đi vào lòng thương xót, nhân hậu của Ba Ngôi Thiên Chúa nếu chúng ta đặt hết tin tưởng và phó thác vào tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa.

Một nhóm các nhà thực vật học đang tham hiểm tại một điểm rất hiểm trở để tìm những loài hoa lạ. Một ngày kia, qua ống nhòm, họ phát hiện ra một loài hoa rất hiếm và rất đẹp. Cây hoa kia mọc ở dưới một khe núi rất sâu dưới hai bờ vách núi thằng đứng. Muốn lấy được cây hoa, cần phải có một người được thả xuống khe vực ấy bằng một sợi dây, một công việc rất nguy hiểm.

Nhìn thấy một thiếu niên địa phương đến gần, các nhà thực vật  hỏi thử: “ Chúng tôi sẽ cho em 20 đô, nếu em đồng ý để chúng tôi thả em xuống vực sâu kia để lấy cây hoa xinh đẹp kia.” Đứa trẻ đến gần bờ vực, nhìn xuống và trả lời: “Chờ cháu một chút. Cháu sẽ trở lại ngay.”

Khi trở lại, thiếu niên ấy dẫn theo một người đứng tuổi. Thiếu niên nói với các nhà thực vật học: “ Cháu đồng ý xuống vực sâu kia để lấy cây hoa cho các ông, với một điều kiện là các ông phải để người này giữ sơi dây. Ông ấy là cha cháu.”

Chúa Cha hằng yêu thương con cái của Ngài. Chỉ ở nơi Ngài chúng ta mới vũng tin trên con đường hành trình đức tin. Thánh Phaolô trong thư 2 gửi Timôthê cũng đã viết: Thiên Chúa “ đã cứu độ và kêu gợi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Giêsu Ki tô, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.” ( 2 Tm 1: 9-10)

Cuộc sống ở trần gian này là một bước chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Muốn đạt đến được sự sống vĩnh cửu ấy, chúng ta phải sống, thực hành những điều kiện Đức Giêsu đòi hỏi: “ Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Con đường đau khổ dẫn đến vinh quang!

LM Trịnh Ngọc Danh

Quản nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Mông Triệu Anaheim